Thứ 417012018

bantintuvan24.7@gmail.com

Quay về Bạn đang ở trang: Home Giải trí Thơ Máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?

Máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?

Được đăng ngày Thứ năm, 14 Tháng 9 2017 22:49
loading...

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

- Những mảnh da non rồi sẽ kéo, sẽ mọc trên những vết thương lòng của Tố quốc. Bởi ai sẽ làm nên niềm kiêu hãnh cho Tổ quốc, nếu không phải nhân dân. Và ai sẽ mang tới cho nhân dân, sự quả cảm, để biết hy sinh không phải là vô ích, nếu không phải là Tổ quốc?

 

Nhìn từ xa... Tổ quốc!

(Nguyễn Duy)

 

Ðối diện ngọn đèn

trang giấy trắng như xeo bằng ánh sáng

Ðêm bắc bán cầu vần vụ trắng

nơm nớp ai rình sau lưng ta

Nhủ mình bình tâm nhìn về quê nhà

xa vắng

núi và sông

và vết rạn địa tầng

Nhắm mắt lại mà nhìn

thăm thẳm

yêu và đau

quằn quại bi hùng

Dù ở đâu vẫn Tổ Quốc trong lòng

cột biên giới đóng từ thương đến nhớ

*

Ngọn đèn sáng trắng nóng mắt quá

ai cứ sau mình lẩn quất như ma

Ai ?

im lặng

Ai ?

cái bóng !

A… xin chào người anh hùng bất lực dài ngoẵng

bóng máu bầm đen sõng soài nền nhà

Thôi thì ta quay lại

chuyện trò cùng cái bóng máu me ta

*

Có một thời ta mê hát đồng ca

chân thành và say đắm

ta là ta mà ta cứ mê ta[1]

Vâng – đã có một thời hùng vĩ lắm

hùng vĩ đau thương hùng vĩ máu xương

mắt người chết trừng trừng không chịu nhắm

Vâng – một thời không thể nào phủ nhận

tất cả trôi xuôi – cấm lội ngược dòng

thần tượng giả xèo xèo phi hành mỡ

ợ lên thum thủm cả tim gan

*

Ta đã xuyên suốt cuộc chiến tranh

nỗi day dứt không nguôi vón sạn gót chân

nhói dài mỗi bước

Thời hậu chiến vẫn ta người trong cuộc

xứ sở phì nhiêu sao thật lắm ăn mày ?

Ai ?

không ai

Vết bầm đen đấm ngực

*

Xứ sở nhân tình

sao thật lắm thương binh đi kiếm ăn đủ kiểu

nạng gỗ khua rỗ mặt đường làng

Mẹ liệt sĩ gọi con đội mồ lên đi kiện

ma cụt đầu phục kích nhà quan

Ai ?

không ai

Vết bầm đen quều quào giơ tay

*

Xứ sở từ bi sao thật lắm thứ ma

ma quái – ma cô – ma tà – ma mãnh…

quỉ nhập tràng xiêu vẹo những hình hài

Ðêm huyền hoặc

dựng tóc gáy thấy lòng toang hoác

mắt ai xanh lè lạnh toát

lửa ma trơi

Ai ?

không ai

Vết bầm đen ngửa mặt lên trời

*

Xứ sở linh thiêng

sao thật lắm đình chùa làm kho hợp tác

đánh quả tù mù trấn lột cả thần linh

Giấy rách mất lề

tượng Phật khóc Ðức Tin lưu lạc
Thiện – Ác nhập nhằng
Công Lý nổi lênh phênh

*

Ai?

không ai

Vết bầm đen tọa thiền

*

Xứ sở thông minh

sao thật lắm trẻ con thất học

lắm ngôi trường xơ xác đến tang thương

Tuổi thơ oằn vai mồ hôi nước mắt

tuổi thơ còng lưng xuống chiếc bơm xe đạp

tuổi thơ bay như lá ngã tư đường

Bịt mắt bắt dê đâu cũng đụng thần đồng

mở mắt… bóng nhân tài thất thểu

*

Ai?

không ai

Vết bầm đen cúi đầu lặng thinh

*

Xứ sở thật thà

sao thật lắm thứ điếm

điếm biệt thự – điếm chợ – điếm vườn…

Ðiếm cấp thấp bán trôn nuôi miệng

điếm cấp cao bán miệng nuôi trôn

Vật giá tăng

vì hạ giá linh hồn

*

Ai?

không ai

Vết bầm đen vò tai

*

Xứ sở cần cù

sao thật lắm Lãn Ông

lắm mẹo lãn công

Giả vờ lĩnh lương

giả vờ làm việc

Tội lỗi dửng dưng
l        lạnh lùng gian ác vặt
Ðạo Chích thành tôn giáo phổ thông

Ào ạt xuống đường các tập đoàn quân buôn

buôn hàng lậu – buôn quan – buôn thánh thần – buôn tuốt…

quyền lực bày ra đấu giá trước công đường

*

Ai?

không ai

Vết bầm đen nhún vai

 

Xứ sở bao dung

sao thật lắm thần dân lìa xứ

lắm cuộc chia li toe toét cười

Mặc kệ cỏ hoang cánh đồng gái góa

chen nhau sang nước người làm thuê

Biển Thái Bình bồng bềnh thuyền định mệnh

nhắm mắt đưa chân không hẹn ngày về

*

Ai ?
không ai

Vết bầm đen rứt tóc

*

Xứ sở kỷ cương

sao thật lắm thứ vua

vua mánh – vua lừa – vua chôm – vua chỉa

vua không ngai – vua choai choai – vua nhỏ…

Lãnh chúa xứ quân san sát vùng cát cứ

lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa

Luật pháp như đùa như có như không có

một người đi chật cả con đường

*

Ai?

không ai

Vết bầm đen gập vuông thước thợ

*

?…
?…
?…

*

Ai ?
Ai ?
Ai ?

Không ai !
Không ai !
Không ai !

Tự vấn – mỏi

vết bầm đen còng còng dấu hỏi

*

Thôi thì ta trở về

còn trang giấy trắng tinh chưa băng hoại

còn chút gì le lói ở trong lòng

*

Ðôi khi nổi máu lên đồng

hồn thoát xác

rũ ruột gan ra đếm

 

Chích một giọt máu thường xét nghiệm

tí trí thức – tí thợ cày – tí điếm

tí con buôn – tí cán bộ – tí thằng hề

phật và ma mỗi thứ tí ti…

Khốn nạn thân nhau

nặng kiếp phân thân mặt nạ

Thì lột mặt đi lần lữa mãi mà chi

dù dối nữa cũng không lừa được nữa

khôn và ngu đều có tính mức độ

*

Bụng dạ cồn cào bất ổn làm sao

miếng quá độ nuốt vội vàng sống sít
mất vệ sinh bội thực tự hào

Sự thật hôn mê – ngộ độc ca ngợi

bệnh và tật bao nhiêu năm ủ lại

biết thế nhưng mà biết làm thế nào

Chả lẽ bây giờ bốc thang chửi bới

thầy chửi bới nhe giàn nanh cơ hội

Chả lẽ bốc thang cỏ khô nhai lại

lạy ông-cơ-chế lạy bà-tư-duy

xin đừng hót những lời chim chóc mãi

Ðừng lớn lối khi dân lành ốm đói

vẫn còng làm cho thẳng lưng ăn

Ðổi mới thật không hay giả vờ đổi mới?

máu nhiễm trùng ta có thể thay chăng?

*

Thật đáng sợ ai không có ai thương

càng đáng sợ ai không còn ai ghét

Ngày càng hiếm hoi câu thơ tuẫn tiết

ta là gì?

ta cần thiết cho ai ?

*

Có thể ta không tin ai đó

có thể không ai tin ta nữa

dù có sao vẫn tin ở con người

Dù có sao

đừng khoanh tay

khủng khiếp thay ngoảnh mặt bó gối

Cái tốt nhiều hơn sao cái xấu mạnh hơn?

những người tốt đang cần liên hiệp lại!

*

Dù có sao

vẫn Tổ Quốc trong lòng

mạch tâm linh trong sạch vô ngần

còn thơ còn dân

ta là dân – vậy thì ta tồn tại

*

Giọt từng giọt

nặng nhọc

Nặng nhọc thay

Dù có sao

đừng thở dài

            còn da lông mọc còn chồi nảy cây.
--
1. Thơ Chế Lan Viên


Nguyễn Duy tên thật là Nguyễn Duy Nhuệ, sinh tại xã Đông Vệ, huyện Đông Sơn (nay là phường Đông Vệ, thành phố Thanh Hóa), tỉnh Thanh Hóa. Năm 1965, từng làm tiểu đội trưởng tiểu đội dân quân trực chiến tại khu vực cầu Hàm Rồng, một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong những năm chiến tranh Việt Nam. Năm 1966 ông nhập ngũ, trở thành lính đường dây của bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu nhiều năm trên các chiến trường đường 9 - Khe Sanh, Đường 9 - Nam Lào, Nam Lào, chiến trường miền Nam, biên giới phía Bắc (năm 1979). Sau đó ông giải ngũ, làm việc tại Tuần báo Văn nghệ, Hội Nhà văn Việt Nam và là Trưởng Đại diện của báo này tại phía Nam.

Nguyễn Duy làm thơ rất sớm, khi đang còn là học sinh trường cấp 3 Lam Sơn, Thanh Hóa. Năm 1973, ông đoạt giải nhất cuộc thi thơ tuần báo Văn nghệ với chùm thơ: Hơi ấm ổ rơmBầu trời vuôngTre Việt nam trong tập Cát trắng. Ngoài thơ, ông cũng viết tiểu thuyết, bút ký. Năm 1997 ông tuyên bố "gác bút" để chiêm nghiệm lại bản thân rồi tập trung vào làm lịch thơ, in thơ lên các chất liệu tranh, tre,nứa, lá, thậm chí bao tải.

Nguyễn Duy xuất hiện và thành danh từ khi còn rất trẻ. Ông may mắn được nhà phê bình văn học Hoài Thanh chú ý và giới thiêu bài thơ đầu tiên để từ đó ông lặng lẽ theo đuổi con đường thơ ca của mình với không ít gian truân qua nhiều bài thơ nổi tiếng ...

Nguyễn Duy nổi tiếng với những tập thơ tiêu biểu đã được người đọc đón nhận qua nhiều thế hệ và trong đó có những bài như: Nhìn từ xa..Tổ quốc, Đá Ơi, Hơi ấm ổ rơm, Bầu trời vuông, Tre Việt Nam....
 Thơ ông đánh thức lương tri con người, chế độ trước những sai lầm do ác tính dẫn đường, hay ngay cả chiến thắng của cuộc chiến tranh mà người ta hả hê ca tụng thì với nhà thơ đó cũng không hơn một bản bi ca cho người dân khốn khổ.

Cuộc trò chuyện giữa nhà thơ Nguyễn Duy vói PV Mặc Lâm:

Mặc Lâm: Thưa nhà thơ Nguyễn Duy, theo chúng tôi được biết thì ông đã nhận được hai giải thưởng quan trọng là Giải thưởng Nhà nước về Văn học nghệ thuật năm 2007, và giải thứ hai do Viện Hàn Lâm Mihai Eminsecu của Rumania chọn để trao Giải thưởng Lớn về thơ năm 2010. Thưa, giữa hai giải thương đó thì ông cho giải nào là quan trọng hơn đối với ông và tại sao, thưa ông?

Nhà thơ Nguyễn Duy : Thực tế tôi không dự thi mà người ta chọn và trao giải. Thơ của tôi tự thân nó tạo được sự rung cảm và giải thưởng nhà nước ở Việt Nam thì tôi được đề cử đợt đầu 2001, nhưng sau đó qua tất cả các cửa ải để đến khâu chung kết thì tôi bị loại vì tôi là “nhà thơ có nhiều vấn đề” quá, và đặc biệt là “Nhìn từ xa… Tổ Quốc”, lúc đó người ta chịu không nổi bài này. Cho đến 2007 họ đề cử lại. Việc này tự động người ta làm thôi chứ tôi không tham dự vào việc làm các thủ tục.

Còn giải thưởng ở Rumania thì Viện Hàn Lâm Mihai Eminescu - Viện mang tên nhà thơ lớn của Romania là ông Mihai Eminescu, giống như ông Nguyễn Du của Việt Nam vậy – tôi không biết họ đọc ở đâu nhưng tôi đoán là họ căn cứ vào tập tuyển dịch của tôi ở Mỹ. Tôi đoán như vậy thôi chứ không biết thực tế có phải như vậy không. Tôi hoàn toàn không biết về họ cũng như không có một giao dịch nào với Viện Hàn lâm đó cả. Họ gửi cho tôi một thông báo và mời tôi sang Romania để nhận giải, nhưng do đau ốm không thể đi được.

Nó (giải thưởng) quan trọng ở chỗ là tự người ta trao giải cho tôi chứ tôi không dự thi, không tham gia việc tranh giải nào cả. Đồng thời đối với tôi thì giải thưởng cũng chả có gì quan trọng cả. Mình làm thơ không phải là để giật giải, mà làm thơ để tự bày tỏ mình thôi. Quan trọng nhất là thơ của mình có được nhiều người nhớ tới không, có được người ta truyền tụng hay không, đó mới là điều quan trọng.

Mặc Lâm: Bài thơ “Nhìn Từ Xa... Tổ Quốc” được viết vào năm 1988 và nhiều người lo ngại do sự dữ dội của nó nên không dám đăng, trong đó có nhà văn Nguyên Ngọc - người được xem là gan góc nhất của tờ Văn Nghệ… Xin ông cho biết một chút về câu chuyện này ạ?

Nhà thơ Nguyễn Duy: Thực ra “Nhìn từ xa. . . Tổ Quốc” khi viết xong thì chính bản thân tôi cũng bất ngờ bởi vì không nghĩ là mình viết được những câu thơ như vậy. Bản thảo hoàn thành ở Mạc Tư Khoa vào tháng 5-1988, cho đến tháng 8 năm đó thì tôi về Việt Nam. Người mà tôi đưa (bài thơ) đầu tiên là anh Nguyên Ngọc – tổng biên tập của tôi, vì tôi làm ở báo Văn Nghệ hồi đó, và anh em ngày xưa rất quý nhau, chơi với nhau thân, nhưng anh Ngọc cho biết là chưa in được.

Mặc Lâm: Còn nhà báo Kim Hạnh thì sao, thưa ông? Ông có đưa bài thơ cho nhà báo Kim Hạnh để bà này vận động cho việc in ấn hay không ạ?

Nhà thơ Nguyễn Duy: Anh Nguyên Ngọc đã nói như vậy thì tôi không đưa cho chị Kim Hạnh, mà chắc là nếu có đưa cho chị Kim Hạnh thì cũng không thể in được vì đấy là tờ báo thuộc TP.HCM, mà lúc đó TP.HCM rất là căng. Có một ông Trưởng ban Nội chính Thành ủy đã phê vào cái bản thảo bài báo in ở Sông Hương là “cái bài này phản tổ quốc, phản nhân dân, phản chủ nghĩa xã hội”. Về sau tôi gặp ông ấy tôi có cự ông ấy rằng anh nói tôi phản chủ nghĩa xã hội thì tôi thấy là chấp nhận được vì tôi không biết cái chủ nghĩa xã hội là cái gì để mà tôi phản, chứ còn phản tổ quốc, phản nhân dân là không được. Anh nói như thế là bậy. Ngồi trên thành ủy là người ta quyền sinh quyền sát, không ai dám cãi lại như bây giờ đâu. Với tình hình như vậy ở TP.HCM thì chị Kim Hạnh dù có ba đầu sáu tay cũng không thể in được cái này.

Bài thơ này lúc đó Tô Nhuận Vỹ là Tổng biên tập Tạp chí Sông Hương, anh gặp tôi và tôi đưa cho anh bản thảo này và anh cầm về. Tôi đinh ninh là anh không in đâu, thế mà đùng một cái anh cho in ở tạp chí Sông Hương. Nó cũng như một giọt nước đầy ly, tạp chí Sông Hương đang có một số vấn đề mà gặp bài “Nhìn từ xa. . . Tổ Quốc” này thành ra họ phải đình bản để kiểm điểm. Bây giờ đọc lại mình cũng không hình dung được là hồi đó mình viết được những câu thơ như vậy. Bây giờ thì không viết nổi.

Mặc Lâm: Thưa, ông vừa nhắc những câu thơ trong bài “Nhìn Từ Xa... Tổ Quốc” khiến tôi bật lên ý định muốn hỏi ông ngay rằng cho tới nay sau 24 năm những gì ông viết trong bài thơ này hình như là nó vẫn đang ứng với xã hội con người Việt Nam hiện tại, ông có thất vọng lắm hay không ạ?

Nhà thơ Nguyễn Duy: Tôi thấy nó diễn biến ra đúng như là mình viết từ hồi đó, mà càng ngày thì lại thấy nó càng đúng với những chuyện thời sự ngày hôm nay. Bài thơ đó cũng đã dự báo hết cả rồi, từ chuyện cơ cực của dân, chuyện xuống cấp của cả xã hội, cho đến những lộn xộn của pháp luật. “Nhìn từ xa . . . Tổ Quốc” có thể nói là một cột mốc mà tôi đã dựng lên và nó chận tôi lại, tôi không đi tiếp được nữa, không vượt qua nó được nữa.

Cho đến bây giờ có nhiều câu mà khi đọc lên cũng còn rợn người. Hồi đó không phải như bây giờ đâu. Bây giờ có cả một lớp người người ta nói trùng trùng điệp điệp những điều như thế, chứ lúc đó nhìn đi nhìn lại thấy mình đơn thương độc mã mà lại ở vào cái thời điểm nguy hiểm. Người ta rình mò, người ta theo dõi ở cửa nhà tôi. Người ta theo dõi mình nên rất là khó trong cuộc sống chứ không phải chỉ là khó trong suy nghĩ nữa đâu. Thế mà, tôi đã viết :

Chích một giọt máu thường xét nghiệm

tí trí thức – tí thợ cày – tí điếm

tí con buôn – tí cán bộ – tí thằng hề

phật và ma mỗi thứ tí ti…
Khốn nạn thân nhau

nặng kiếp phân thân mặt nạ
Thì lột mặt đi lần nữa mãi mà chi

dù dối nữa cũng không lừa được nữa

khôn và ngu đều có tính mức độ
Hay là những cái đoạn về quyền lực mà bây giờ đọc tôi cũng buồn cười một mình :

Xứ sở kỷ cương

sao thật lắm thứ vua

vua mánh – vua lừa – vua chôm – vua chỉa

vua không ngai – vua choai choai – vua nhỏ…
Lãnh chúa xứ quân san sát vùng cát cứ

lúc nhúc cường hào đầu trâu mặt ngựa

Luật pháp như đùa như có như không có

một người đi chật cả con đường 

Vân.. vân.., nhiều lắm. Có thể nói nhiều câu tôi tâm đắc mà bây giờ tôi không viết nổi.

Những mảnh da non rồi sẽ kéo, sẽ mọc trên những vết thương lòng của Tố quốc. Bởi ai sẽ làm nên niềm kiêu hãnh cho Tổ quốc, nếu không phải nhân dân. Và ai sẽ mang tới cho nhân dân, sự quả cảm, để biết hy sinh không phải là vô ích, nếu không phải là Tổ quốc?

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

loading...
loading...