Thứ 417012018

bantintuvan24.7@gmail.com

Quay về Bạn đang ở trang: Home Giải trí Thơ Ba bài thơ tình trong những bài thơ tình hay nhất của thế kỷ XX

Ba bài thơ tình trong những bài thơ tình hay nhất của thế kỷ XX

Được đăng ngày Thứ tư, 26 Tháng 4 2017 07:23
loading...

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

-Trong hai cuộc chiến tranh vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta, nhiều trí thức tài hoa đã dứt khoát chia tay với những thành phố, thị xã, thị trấn đô hội để gia nhập quân đội, cầm súng, giải phóng Tổ quốc, giải phóng quê hương.-

 Bằng âm nhạc, hội họa, văn chương và thi ca, các trí thức trẻ tài hoa đã thể hiện tài năng rực rỡ của mình, phục vụ đắc lực cho công cuộc kháng chiến cứu nước. Các tác phẩm nghệ thuật của họ là một mảng tài sản quý giá trong tâm hồn văn hóa Việt Nam.

Bên cạnh những tác phẩm hùng tráng trên những nẻo đường kháng chiến, nhưng kỷ niệm đau xót, bi ai đầy lãng mạn cách mạng đã được các văn nghệ sỹ thể hiện thành công, mang tính nhân văn sâu sắc nên nó cứ sống mãi với thời gian.

“Màu tím hoa sim” của nhà thơ Hữu Loan sáng tác năm 1948 (bằng tự lòng tác giả), sau đó được chép vào một chiếc quạt giấy để lại nhà một người bạn ông ở Thanh Hóa. Anh bạn ông đã chép lại bài thơ từ chiếc quạt ra tờ giấy để bạn bè đọc. Vậy là bài thơ được truyền đi khắp trong Nam, ngoài Bắc và đã khẳng định đời sống bền vững của nó trong công chúng cho đến hôm nay, tính ra đã được 62 năm (1948-2010) và chắc chắn bài thơ sẽ còn sống mãi trong đời sống văn chương của dân tộc Việt.

Tạp chí HNHN tạ lỗi hương hồn nhà thơ Hữu Loan, xin đăng lại bài thơ “Màu tím hoa sim” do một cựu chiến binh (đồng cảnh với tác giả) chép trong sổ tay chiến sỹ từ 1954. Có thể có những câu thơ ngày ấy có khác với hôm nay nhưng nó hòa cùng thời thế và công chúng ngày ấy…

Bài thơ “Núi đôi” của nhà thơ Vũ Cao ra đời sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơ được ký kết, hòa bình lập lại trên miền Bắc (20-7-1954). Ngày đó, tại một cuộc chỉnh huấn Chính trị của Đại đoàn 312 ở Phủ Lỗ, Đông Anh, Hà Nội, Vũ Cao nghe một chiến sỹ bộc bệch cuộc tình dang dở của mình. Cảm xúc lắng sâu trong tác giả, Vũ Cao đã sáng tác bài thơ “Núi đôi” gắn với cảnh và người ở  vùng trung du thơ mộng. Bài thơ được đăng đầu tiên trên Tạp chí Văn nghệ quân đội rồi nhiều tờ báo khác và trở thành bài thơ chép trong sổ tay của hàng triệu công chúng. Có thời gian, đồng chí Bí thư và Chủ tịch của vùng quê có Núi đôi, có làng Đoài, làng Đông và làng Xuân Dục đã đến Tạp chí VNQĐ đề nghị Tòa soạn cho biết tên, tuổi của người du kích Anh hùng ấy để làng, xã vinh danh, học tập. Thật là tình huống khó khăn đối với Tòa soạn vì trên đất nước triền miên giặc giã này, có biết bao mối tình bi thương và giàu chất anh hùng ca như thế. “Núi đôi” là tượng đài thơ đậm chất anh hùng và bi tráng của một thế hệ thanh niên thời chống Pháp.

Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, khi Mỹ - Diệm ban hành Luật 10-59 và lê máy chém đi khắp miền Nam, trả thù những người kháng chiến cũ, nhà thơ Giang Nam lại gặp cảnh chia ly đau xót của thế hệ trẻ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ ở miền Nam. Từ chiến khu Nam Trung Bộ, ông xúc động sáng tác bài thơ “Quê hương” trong lửa đạn. “Quê hương” thời chống Mỹ là tượng đài tình yêu của một thời kháng chiến chống Mỹ, hành trình cùng “Núi đôi” của một thuở kháng chiến 9 năm.

Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc ba bài thơ tình bi thương của một thuở chiến tranh để mỗi chúng ta cùng hiểu cái giá mà dân tộc phải trả để có ngày hòa bình, thống nhất, đổi mới đầy vinh quang hôm nay.

 

 

 

Hữu Loan:  

 

Màu tím hoa sim

 

Nàng có ba người anh đi bộ đội

Những em nàng

Có em chưa biết nói

Khi tóc nàng xanh xanh

Tôi, người Vệ quốc quân

xa gia đình

Yêu nàng như tình yêu em gái

Ngày hợp hôn

nàng không đòi may áo mới

Tôi mặc đồ quân nhân

đôi giày đinh bết bùn đất hành quân

Nàng cười xinh xinh

bên anh chồng trẻ tuổi

Tôi ở đơn vị về

Cưới nhau xong là đi

Từ chiến khu xa

Nhớ về ái ngại

Lấy chồng thời chiến tranh

Mấy người đi trở lại

Nhỡ khi mình không về

thì thương

người vợ chờ

bé bỏng chiều quê…

Nhưng không chết người trai khói lửa

Mà chết người gái nhỏ hậu phương

Tôi về không gặp nàng

Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối

Chiếc bình hoa ngày cưới

thành bình hương tàn lạnh vây quanh

Ngày xưa

Tóc nàng xanh xanh

ngắn chưa đầy búi

Em ơi! Giây phút cuối

không được nghe nhau nói

không được trông lần cuối

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím

áo nàng may, màu tím hoa sim

Ngày xưa

đèn khuya, bóng nhỏ

Nàng vá cho chồng tấm áo

ngày xưa…

Một chiều rừng mưa

Ba người anh từ chiến trường đông bắc

Được tin em gái mất

trước tin em lấy chồng

Gió sớm thu về rờn rợn mé sông

Đứa em nhỏ lớn lên

Ngỡ ngàng nhìn ảnh chị

Khi gió sớm, thu về

cỏ vàng mồ chị

Chiều hành quân

Qua những đồi hoa sim

Những đồi hoa sim dài

không bao giờ tắt

Màu tím hoa sim

tím chiều hoang biền biệt

Nhìn áo anh rách vai

Tôi hát trong màu hoa:

“Áo anh sứt chỉ đường tà

Vợ anh mất sớm, mẹ già xa lâu…”

 

 

 

 

Vũ Cao:  

 

Núi đôi

 

Bảy năm về trước, em mười bảy

Anh mới đôi mươi, trẻ nhất làng

Xuân Dục, Đoài Đông, hai nhánh lúa

Bữa thì anh tới, bữa em sang.

Lối ta đi giữa hai sườn núi

Đôi ngọn nên làng gọi núi Đôi

Em vẫn đùa anh: sao khéo thế?

Núi chồng, núi vợ đứng song đôi.

Bỗng cuối mùa chiêm quân giặc tới

Ngõ chùa cháy đỏ những thân cau

Mới ngỏ lời thôi đành lỗi hẹn

Ai ngờ từ đó mất tin nhau.

Anh vào bộ đội, lên Đông Bắc

Chiến đấu quên mình năm lại năm

Mỗi bận dân công về lại hỏi

Ai người Xuân Dục, Núi Đôi chăng?

Anh nghĩ: quê ta giặc chiếm rồi

Trăm nghìn căm uất bao giờ nguôi?

Mỗi tin súng nổ vùng đai địch

Sương trắng, người đi lại nhớ người.

Đồng đội có nhau thường nhắc nhở

Trung du, làng nước vẫn chờ trông

Núi Đôi, bốt dựng kề ba xóm

Em vẫn đi về những bến sông.

Náo nức bao nhiêu ngày trở lại

Lệnh trên ngừng bắn, anh về xuôi

Hành quân qua tắt đường sang huyện

Anh ghé thăm nhà, thăm Núi Đôi.

Mới đến đầu ao, tin sét đánh:

Giặc giết em rồi, dưới gốc thông

Giữa đêm bộ đội vây đồn Thứa

Em sống trung thành, chết thuỷ chung.

Anh ngước nhìn lên hai dốc núi

Hàng thông, bờ cỏ, con đường quen

Nắng lụi bỗng dưng mờ bóng khói

Núi vẫn Đôi mà anh mất em.

Dân chợ Phù Ninh ai cũng bảo

Em còn trẻ lắm, nhất làng trong

Mấy năm cô ấy làm du kích

Không hiểu vì sao chẳng lấy chồng.

Từ núi qua thôn, đường nghẽn lối

Xuân Dục, Đoài Đông cỏ ngút đầy

Sân biến thành ao, nhà đổ chái

Ngổn ngang bờ bụi cánh dơi bay.

Cha mẹ dìu nhau về nhận đất

Tóc bạc thương từ mỗi gốc cau

Nứa gianh nửa mái lều che tạm

Sương trắng khuây dần chuyện xót đau.

Anh nghe có tiếng người qua chợ

Ta gắng mùa sau lúa sẽ nhiều

Ruộng thấm mồ hôi từng nhát cuốc

Làng ta rồi đẹp biết bao nhiêu.

Nhưng núi còn kia anh vẫn nhớ

Oán thù còn đó anh còn đây

Ở đâu cô gái làng Xuân Dục

Đã chết vì dân giữa đất này?

Ai viết tên em thành liệt sĩ

Bên những hàng bia trắng giữa đồng?

Nhớ nhau, anh gọi em: đồng chí

Một tấm lòng trong vạn tấm lòng.

Anh đi bộ đội sao trên mũ

Mãi mãi là sao sáng dẫn đường

Em sẽ là hoa trên đỉnh núi

Bốn mùa thơm mãi cánh hoa thơm.

 

 

 

 

 

 

Giang Nam:  

Quê Hương

 

Thuở còn thơ, ngày hai buổi đến trường

Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:

"Ai bảo chăn trâu là khổ?"

Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao.

Những ngày trốn học

Đuổi bướm cạnh cầu ao

Mẹ bắt được..

Chưa đánh roi nào đã khóc!

Có cô bé nhà bên

Nhìn tôi cười khúc khích…

Cách mạng bùng lên,

Rồi kháng chiến trường kỳ

Quê tôi đầy bóng giặc

Từ biệt mẹ, tôi đi

Cô bé nhà bên - (có ai ngờ)

Cũng vào du kích

Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích

Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi)

Giữa cuộc hành quân không nói được một lời

Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...

Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...

Hòa bình tôi trở về đây

Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày

lại gặp em

Thẹn thùng nép sau cánh cửa...

Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ:

Chuyện chồng con? (khó nói lắm anh ơi!)

Tôi nắm bày tay nhỏ nhắn ngậm ngùi

Em vẫn để trong tay tôi nóng bỏng...

Hôm nay nhận được tin em

Không tin được dù đó là sự thật!

Giặc giết em rồi, quăng mất xác

Chỉ vì em là du kích, em ơi!

Đau xé lòng anh, chết nửa con người!

Xưa yêu quê hương vì có chim, có bướm

Có những ngày trốn học bị đòn, roi...

Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất

Có một phần xương thịt của em tôi.

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

loading...
loading...