Thứ 420062018

bantintuvan24.7@gmail.com

Quay về Bạn đang ở trang: Home Khám phá Phong tục - tập quán Tản mạn về năm rắn Năm rắn, tản mạn về rắn (phần 3): Hai sự kiện lưu truyền liên quan tới rắn ở thời Lê

Năm rắn, tản mạn về rắn (phần 3): Hai sự kiện lưu truyền liên quan tới rắn ở thời Lê

Được đăng ngày Thứ bảy, 19 Tháng 1 2013 23:25
loading...

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

Rắn đứng thứ 6 trong 12 con giáp. Nhân dịp năm con rắn, xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc chuyên đề tản mạn về rắn do Bantintuvan sưu tầm và biên tập

 

Phần 3: Hai sự kiện lưu truyền liên quan tới rắn ở thời Lê


Sự kiện 1. Rắn báo oán - Vụ án Lệ Chi Viên

 Vụ án Lệ Chi Viên dẫn đến cái chết thảm khốc của anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi (1380-1442) cho đến nay vẫn làm đau lòng hậu thế dù mấy trăm năm đã trôi qua.

 Rắn báo oán là truyền thuyết li kỳ, gắn liền với những biến cố xảy ra với Nguyễn trãi. Án tru di hay Lệ Chi Viên hiện nay còn gây nhiều tranh cãi. Cũng không thể đưa ra những khẳng định chắc chắn cho những sự kiện trong lịch sử được ghi chép lại được. Vì theo nhiều nhà nghiên cứu, có rất nhiều sự mâu thuẫn, trái ngược nhau, phủ nhận nhau đối với nhứng di cảo để lại như Trong Đại việt sử kí toàn thư của Ngô Sĩ Liên và các ghi chép trong gia phả của các dòng họ Nguyễn lâu đời còn để lại. Tất cả chưa hoàn toàn thống nhất, đồng thời cũng do hiểu biết lịch sử cũng như số lượng học giả nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này còn khá khiêm tốn nên rất nhiều tình tiết lịch sử, các truyền thuyết xung quanh nhân vật Nguyễn Trãi còn chưa sáng rõ. Về các dị bản của truyền thuyết rắn báo oán.


Xung quanh nhân vật Nguyễn Thị Lộ và chuyện "Rắn báo thù" có nhiều dị bản khác nhau. 


Tóm tắt bản chính của A.Landes và Ức Trai di tập

- Rắn mẹ bị cụ đồ Nhị Khê giết mất con, nhỏ ba giọt máu trên sách cụ đồ, biến thành Nguyễn Thị Lộ để trả thù.

- Cô gái bán chiếu gon Nguyễn Thị Lộ gặp Nguyễn Trãi (cháu của cụ đồ Nhị Khê), họa thơ với ông.

- Nguyễn Trãi lấy Nguyễn Thị Lộ làm thiếp, đưa nàng vào phủ.

- Vua bị bệnh đau lưỡi, Thị Lộ đề nghị vua thè lưỡi ra để chữa. Lộ cắn vào lưỡi vua (được hiểu là tiêm nọc độc).

- Vua chết ngay không kịp kêu một tiếng.

- Thị Lộ bị tội trảm quyết, biến thành rắn, lội xuống nước đi mất.

- Vợ người lính để sổng Lộ được Nguyễn Trãi nhổ nước bọt vào tay, rùng mình có mang đẻ ra Nguyễn Anh Vũ, người con duy nhất sót lại của Nguyễn Trãi, sau vụ án chu di tam tộc.

- Anh Vũ làm quan to, đi sứ Trung Quốc, đi thuyền trên hồ Động Đình.

- Một con rắn khổng lồ (được hiểu là hóa thân của Nguyễn Thị Lộ) nổi lên đuổi theo, hòng làm lật thuyền.

- Anh Vũ hy sinh để cứu đoàn sứ bộ, cầm dao nhảy xuống hồ.

- Vua Trung Quốc sai pháp sư cao tay đến giết được rắn, mổ bụng lấy xác Anh Vũ chôn cất chu đáo và lập đền thờ bên hồ.


Tóm tắt dị bản của Sử Nam chí dị


- Nguyễn Trãi nằm mộng thấy một người đàn bà xin cứu mạng cho 12 mẹ con. Sau đó có lệnh vua đòi, chưa xem xét được.


- Lúc về, được biết người nhà đã diệt một ổ rắn có 12 trứng.

- Đêm, khi ông đọc sách có một con rắn nhỏ máu xuống sách, vào chỗ chữ "đại" (nghĩa là đời), thấm qua ba tờ.

- Rắn hóa thành Nguyễn Thị Lộ, bán chiếu, gặp Nguyễn Trãi. Nguyễn Trãi lấy Thị Lộ làm nàng hầu.

- Vua đi tuần thú ghé vào nhà Nguyễn Trãi khi ông đi vắng.

- Thị Lộ pha trà cho vua, lén nhả nước bọt (nọc rắn độc) vào chén trà.

- Vua uống, chết ngay.

- Nguyễn Trãi tự luận án đáng tru di tam tộc và uống thuốc độc tự tử.

- Thị Lộ bị đóng cũi sắt dìm xuống sông, hóa rắn bơi đi.

- Một người vợ bé của Nguyễn Trãi đang có mang, bỏ trốn, sau đẻ ra Anh Vũ.

- Anh Vũ được vua Nhân Tông đón về phong chức tước, ban bổng lộc.


 

Rắn báo oán là có thât?

 Dân gian truyền miệng

 Dân gian có truyền miệng một truyền thuyết về con rắn báo oán. Rằng, cha Nguyễn Trãi là Nguyễn Phi Khanh khi còn dạy học ở Thăng Long, có dự định cho học trò phát hoang khu vườn, đến đêm nằm mơ thấy một người đàn bà với bầy con dại tới xin ông cho thư thả ít hôm mới dọn nhà vì con mọn.

Sáng ra khi học trò của ông phát cỏ vườn nhà thì đánh chết một bầy rắn, lúc đó ông mới hiểu ra ý nghĩa giấc mơ, ông than thở, cho chôn bầy rắn và cho học trò biết là loài rắn thường hay thù dai, thế nào cũng trả thù ông.

Đêm đó, lúc ông đọc sách thì có con rắn bò trên xà nhà nhỏ một giọt máu thấm vào chữ "đại" ("đời") qua ba lớp giấy ứng với việc gia tộc ông bị hại đến ba đời.

Ngày sau con rắn hóa ra bà Nguyễn Thị Lộ dụ dỗ Nguyễn Trãi và làm vợ thứ của Nguyễn Trãi.

Ngày 27 (Tháng 7), vua Lê đi tuần về miền đông, duyệt quân ở thành Chí Linh, nơi ở ẩn của Nguyễn Trãi. Đên ấy, Nguyễn Thị Lộ hầu vua suốt đêm. Sáng hôm sau, vua băng hà. Bà Nguyễn Thị Lộ biến thành rắn bò đi khi bà bị chịu tội dìm xuống sông.


 Sự kiện 2. Lê Quý Đôn với bài thơ "Rắn đầu biếng học"

 Rắn đầu biếng học

Chẳng phải "Liu điu" vẫn giống nhà!

"Rắn đầu" biếng học quyết không tha

Thẹn đèn "Hổ lửa" đau lòng mẹ,

Nay thét "Mai gầm" rát cổ cha.

"Ráo" mép chỉ quen tuồng lếu láo,

"Lằn" lưng chẳng khỏi vết roi da.

Từ nay "Trâu  lỗ"  xin siêng học,

Kẻo "Hổ mang" danh tiếng thế gia!

 Lê Quý Đôn (1728 - 1784) tự là Doãn Hậu, hiệu là Quê Đường, người làng Duyên Hà, tỉnh Thái Bình. Tương truyền, khi còn nhỏ, Lê Quý Đôn đã tỏ ra rất thông minh, học đến đâu thụộc lòng đến đây, có tài xuất khẩu thành thơ, được dân làng phong cho danh hiệu Thần đồng. Lên 7, 8 tuổi, mặc dù rất thông minh nhưng Lê Quý Đôn lại lười học, thường rong chơi cùng trẻ em trong xóm.

Mẹ ông buồn lắm, cha ông rất nghiêm khắc. Một hôm, Lê Quý Đôn bỏ học đi chơi, cha kêu về quở phạt. Lúc ấy, một người khách đến, khách xin người cha tha cho Lê Quý Đôn và bảo phải làm một bài thơ tạ Lê Quý Đôn ứng khẩu đọc ngay bài thơ "Rắn đầu biếng học ". Cha ông cũng như người khách đều ngạc nhiên, thích thú vì bài thơ là một nghệ thuật "chơi chữ " tuyệt vời.

Chẳng những diễn tả được hoàn cảnh, tâm trạng của một đứa học trò làm biếng mà bài thơ còn có hai nghĩa thể hiện sự thông minh, nhanh trí của tác giả Tuy là một bài thơ được Lê Quý Đôn làm để tạ tội, tội làm biếng, bỏ học, đi chơi, tội cứng đầu (rắn đầu) không chịu nghe theo những lời khuyên răn, dạy bảo của cha mẹ nhưng bài thơ của ông còn nhắc đến tên nhiều loài rắn.

Tuy không phải là một hình thức mới lạ nhưng muốn đạt được nghệ thuật cao, người viết phải có tài, vận dụng nhiều công phu. ở đây, Lê Quý Đôn ứng khẩu đọc lên ngay mà lời thơ vẫn lưu loát, ý thơ hàm súc, kỹ thuật điêu luyện. Để nâng cao nghệ thuật, tác giả còn khéo léo phối hợp "phép hội ý" trong thơ:

Thẹn đèn, hổ lửa, đau lòng mẹ

Nay thét, mai gầm, rát cổ cha

Phép đối ngẫu của hai cặp thực và luận thật chỉnh. Nhờ phép hội ý hỗ trợ, lời và ý đối với nhau rất sát, tạo cho người đọc sự hứng thú bất ngờ. Nhạc thơ có biến đổi nhưng giữ được mức độ điều hòa, phù hợp với ý, tình của nhân vật trong thơ.

Ngoài giá trị nghệ thuật đặc sắc, nội dung bài thơ đã phản ảnh đúng tâm trạng của một đứa bé biết ăn năn, hối cải trước, những lỗi lầm và tâm trạng của người làm cha mẹ đối với đứa con cứng đầu, lêu lỏng.

Năm 18 tuổi, Lê Quý Đôn đậu giải nguyên, năm 27 tuổi đậu Bảng nhãn. ông làm quan đời Lê Hiến Tôn, ban đầu làm Hàn Lâm Viện Thị Thư (1753) sau đến Công Bộ Thượng Thư. Năm 1776, ông cáo về trí sĩ. 

Bantintuvan

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

loading...
loading...