Thứ 317102017

bantintuvan24.7@gmail.com

Quay về Bạn đang ở trang: Home Khám phá Phong tục - tập quán Tết việt Tết 2015 Tết - năm mới Lễ hội Lễ hội Nõ - Nường và hình tượng khoái lạc trong lễ hội của người Việt

Lễ hội Nõ - Nường và hình tượng khoái lạc trong lễ hội của người Việt

Được đăng ngày Thứ sáu, 05 Tháng 2 2016 17:05
loading...

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

- Nói đây là lễ hội “tế nhị” và phồn thực nhất quả không sai. Tất cả các trò diễn xướng trong lễ hội đều có một sự ẩn dụ về khả năng sinh sôi nảy nở của con người.

 

Người đàn ông cầm biểu tượng dương vật bằng gỗ đâm vào biểu tượng âm vật cũng bằng gỗ mà người phụ nữ đang cầm trong bóng tối.

 

Nếu ba lần đâm trúng - mùa màng tươi tốt, bội thu; hai lần - được mùa; một lần là làm ăn thất bát, thua kém…

Cứ mỗi độ Xuân về, nhằm ngày 11, 12 tháng Giêng âm lịch, dân Tứ Xã, Lâm Thao, Phú Thọ, quê hương của chàng Tổng Cóc chồng bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương, lại nô nức tổ chức hội “Trò Trám” - "Linh tinh tình phộc".

 

Hội Trò Trám được tổ chức từ đêm 11 tháng Giêng với các trò: cày, cấy, câu cá, đánh lờ, dệt lụa, thợ mộc, dạy học… diễn trò là những người dân Tứ Xã với những tiết mục dân gian vui nhộn khắc họa bốn nghề chính sĩ, nông, công, thương … chìm trong những câu ca lời hát đối dân gian vui nhộn.

 

Tâm điểm và cũng là linh hồn của Trò Trám là “lễ mật” diễn ra lúc nửa đêm 11 rạng ngày 12 tháng Giêng âm lịch. Đây là thời gian giao hòa giữa trời và đất, ngày cũ qua và ngày mới bắt đầu.

 

Sau khi hoàn thành việc tế lễ trước đền Trám (sau 12 giờ đêm), ông thủ từ làm lễ thắp hương để xin thần miếu lấy bộ linh vật "nõ, nường" được cất giữ tại nơi linh thiên nhất của đền Trám xuống để trao cho cặp nam, nữ được làng chọn trước - hai linh vật tượng trưng cho giới nam và nữ được làm bằng gỗ, sơn màu đỏ, theo quan niệm của người xưa trò chỉ được diễn trong đêm tối vào đúng giờ “lành” chính Tý thì ý nghĩa cầu may, linh thiêng của việc mới linh diệu.

Người đàn ông lực điền đóng khố, cởi trần, đầu chít khăn đỏ, cầm "nõ"; Người nữ nông mặc yếm, váy ngắn thâm, cầm "nường". Sau khi làm lễ khấn thần miếu "Trám" xong Lúc này, đèn, nến trong và ngoài miếu tắt phụt, cụ chủ tế hô “linh tinh tình… phộc”, hai nhân vật chính: nam cởi trần đóng khố cầm nõ, nữ mặc váy đeo yếm đào cầm nường làm các thao tác như giao hợp của người nam và người nữ.

 

Theo quan niệm nếu ba lần đâm trúng - mùa màng tươi tốt, bội thu; hai lần - được mùa; một lần là làm ăn thất bát, thua kém…

 

Trong đêm tối chủ tế nghe tiếng “cạch” đủ ba tiếng đèn lại sáng. Phút ấy gọi là phút “thiêng”, “dập” chiêng trống để mừng và kính báo với thần linh, thiên địa biết “lễ mật” đã thành công

 

Chủ tế dẫn đầu “đám trò” chạy quanh miếu ba vòng theo ngược chiều kim đồng hồ, theo sau là dân làng: Vừa chạy vừa hú, vừa gõ dùi vào mẹt để đuổi ma quỷ, trừ hiểm họa cả năm cho dân làng...

 

Khi nghe hiệu chiêng trống “dập” và tiếng la hét ở ngoài miếu thì số người ở nhà trong phường cũng đồng loạt “gõ” dùi vào mẹt hoặc dùng chày “giã” vào cối và la hét theo để đuổi ma quỷ.

 

Và hôm sau, trong hội hát trình nghề "Tứ dân chi nghiệp", cái nọ “phộc” vào cái kia cùng lời ca ẩn ngữ Nõ Nường lại “bồi” thêm lần nữa với ẩn ý “quá tam ba bận “tôi luyện” cho vật “hèm” đầy đủ linh nghiệm.

 

Ngày trước, sau 3 câu khẩu lệnh “linh tinh tình phộc”, cụ thủ từ sẽ hô to “tháo khoán”. Mọi người hò reo, các đôi trai gái trong làng được “tự do” mọi chuyện ngoài rừng trám. Trong thời gian đó người con gái phải giữ một vật của nam để làm tin như khăn đội đầu.

 

Cô nào mang thai trong dịp đó là lễ “hèm” của làng thành công, đem lại điều may mắn cả năm cho gia đình và toàn phường. Phường sẽ đứng ra lo liệu tổ chức lễ cưới cho họ và không phải nộp khoản tiền “cheo”. Những đứa trẻ được sinh ra từ đêm “linh tinh tình phộc” làng chấp nhận vì họ cho rằng những đứa trẻ đó sẽ mang lại sự phồn vinh cho cả làng

 

Theo các cụ già kể lại, việc thờ cặp sinh thực khí ở miếu Trò có từ thời Hùng Vương, linh vật được cất giữ cẩn thận trên khám thờ của ngôi miếu và chỉ lấy ra một lần duy nhất trong năm, vào đúng đêm “linh tinh tình phộc”. “Nõ” và “nường” được thờ trong miếu, tuy chỉ là khúc gỗ được tạo thô sơ, nhưng với những người dân ở làng Tứ Xã, chúng là những linh vật.

 

Không một ai, kể cả ông Từ được phép mang nó ra khỏi khám thờ nếu đó không phải là đêm 11 tháng Giêng. Từ trước đến nay, chỉ ông Từ và đôi nam nữ được chọn là được sờ tay vào linh vật.

Tạo hình nõ và nường trong tín ngưỡng phồn thực.

Nõ-nường trong tín ngưỡng phồn thực

Hình ảnh sinh thực khí xuất hiện trong nhiều lễ hội dân gian của các làng quê Việt thực chất là hình ảnh cơ quan sinh dục nam và nữ được hình tượng hóa, đặc trưng hóa thành các biểu tượng, được người dân gọi là nõ và nường.

 

Nõ-dương vật, là biểu tượng nói lên sức mạnh truyền giống, sinh sản, tượng trưng cho dương khí và là một bản nguyên chủ động. Nường-âm vật, là một biểu tượng biểu thị sức mạnh sinh sản của người mẹ vĩ đại, tượng trưng cho âm khí và là một bản nguyên thụ động. 
Trong các lễ hội phồn thực của người Việt ở Bắc Bộ, nõ và nường thường được làm bằng gỗ, tạo hình giống cơ quan sinh dục nam và nữ. Hai loại tượng hình dương vật và âm vật này luôn đi đôi, biểu hiện cho sức mạnh về sinh sản được tôn thờ trong tín ngưỡng phồn thực. 

Ở mỗi lễ hội, mỗi làng quê, những hình tượng sinh thực khí được tạo ra khác nhau về chất lượng và kích thước nhưng chúng đều không nằm ngoài quy luật chung của biểu tượng âm-dương mà con người đã ngầm định với nhau từ hàng nghìn năm nay. 

Hiện nay, những hình ảnh cơ quan sinh dục nam nữ không được làm theo kiểu “trực quan sinh động”. Thay vào đó, người dân mô phỏng một cách tế nhị và kín đáo hơn bằng: chiếc kén tằm bằng gỗ đẽo hình sinh thực khí nam và nữ ở Đồng Kỵ (Từ Sơn-Bắc Ninh), chiếc lao và tấm bia bằng gỗ trong trò thi ném lao ở hội Hiền Quan (Tam Nông-Phú Thọ), chiếc dùi gỗ và cái mu rùa bằng mo cau trong trò Trám (Lâm Thao-Phú Thọ)... Người dân “chế tác” các vật biểu tượng cho sinh thực khí nam-nữ từ các nguyên liệu gần gũi, sẵn có, thể hiện tính dân dã của tín ngưỡng phồn thực dân gian. 

Việc tôn thờ tín ngưỡng phồn thực trong các lễ hội dân gian của người Việt phong phú và có nhiều cách thức khác nhau. Có nơi, người ta đặt lên bàn thờ những biểu tượng âm dương rồi mang ra diễn trò khi tổ chức lễ hội. Hoặc, người dân chế tác những hình sinh thực khí to ngoại cỡ để làm lễ rước long trọng. Cũng có nơi, người ta thờ bằng cách tổ chức rước, cướp hình sinh thực khí cầu tự, cầu may. 

Tục rước, cướp hình sinh thực khí

Theo các nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, việc thờ sinh thực khí được thể hiện rõ nét và phổ biến nhất ở các lễ hội làng Việt qua tục rước và tục cướp hình sinh thực khí.

Trong tiềm thức của những cư dân nông nghiệp, biểu tượng của âm vật và dương vật chính là những biểu tượng linh thiêng của sự sinh sôi, nảy nở của muôn loài. Chính vì vậy, việc rước hình sinh thực khí trong ngày hội làng là cách bày tỏ sự sùng bái những linh vật này, đồng thời bày tỏ niềm ước vọng của con người trước thần linh về một năm mới trời đất giao hòa, mọi vật sinh sôi, phát triển.

Trong lễ khai xuân cầu đinh đầu năm, người dân tổ chức lễ rước “vật thiêng”, hay còn gọi là “vật hèm” rất trang trọng vào đêm trước khi diễn ra lễ hội. Trong đêm rước, đàn ông rước vật thờ là cây gậy vông từ miếu, đàn bà rước vật thờ là mo cau từ đền về đình làng. Trên đường gặp nhau, hai bên “chào hỏi” bằng cách cho gậy vông và mo cau chạm vào nhau nhiều lần. Hành động đó biểu trưng cho sự giao hợp nam nữ cụ thể, rõ rệt với thông điệp, phồn thực để may mắn đến với dân làng. Nghi thức này được thực hiện trong hội làng Đức Bác, huyện Lập Thạch, tỉnh Phú Thọ, từ ngày 1-4/2 âm lịch hàng năm. 

Nghi lễ cướp sinh thực khí hiện nay biến tướng sang các hình thức khác như: cướp kén, cướp cây bông, cướp dò... 

Với quan niệm, sinh thực khí là những vật linh thiêng, đem lại may mắn mà ai cũng mong có được “vật thiêng”, người dân đã tổ chức những cuộc thi cướp sinh thực khí một cách công khai. Nghi lễ cướp sinh thực khí hiện nay còn xuất hiện trong rất nhiều hội làng, nhưng đã biến tướng sang các hình thức khác như: cướp kén, cướp cây bông, cướp dò... Ví như lễ hội Gia Thanh, huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ với tục “cướp dò” được tổ chức vào ngày mùng 2 tháng Giêng hàng năm. Vào ngày lễ, làng mở tiệc bánh chưng, bánh giày để tế thần, sau đó tiến hành nghi lễ “cướp dò”-một tục hèm của làng mà kỳ hội nào cũng phải có. Mọi người la hét, xô đẩy, tranh cướp dò một cách quyết liệt.

Cũng có nhiều nơi, người dân quan niệm cần phải kết hợp cả việc rước và cướp sinh thực khí mới tạo nên sự hoàn chỉnh cho lễ hội. Làng Khúc Lạc và làng Dị Nậu, huyện Tam Nông, tỉnh Phú Thọ là nơi tổ chức kết hợp cả hai nghi lễ đó trong lễ hội tổ chức vào ngày 7 và 26 tháng Giêng hàng năm.

 

Theo đó, trên bàn thờ, ngoài trầu cau, rượu thịt, người ta còn để những hình tượng sinh thực khí nam nữ. Trong nghi thức tế lễ linh thiêng ngày hội làng, nõ nường được đặt ngay ngắn, trang trọng trên bàn thờ tế. Tế xong người ta tổ chức rước thần đi quanh làng. Kết thúc đám rước tại sân đình, dân làng tổ chức tranh cướp những cái nõ nường. Những biểu tượng âm-dương này được treo lên một cành tre, rồi vị cao niên nhất trong làng rung cho những cái nõ nường rơi xuống để dân làng xô đẩy cướp lấy.

 

Có được “vật thiêng” đó là điềm lành đến với gia đình cả năm, vì thế dân trong làng mới tranh cướp nhiệt tình như thế. Đó cũng là giá trị tinh thần quý giá mà lễ hội đem lại cho người dân nơi tổ chức lễ hội.

 

Tục thờ, rước, cướp hình sinh thực khí thể hiện tính luyến ái một cách công khai đem lại sự phấn khích cho người dân, từ đó, mang đến cho họ niềm tin thiêng liêng vào một năm bình an, mưa thuận gió hòa. Yếu tố phồn thực trong các lễ hội vì thế mà có sức sống lâu bền trong tín ngưỡng của những người dân Việt.


...Nữ cầm cái Nường đưa lên, nam cầm Nõ “phộc’’ vào và phải làm ba lần như thế. Trong đêm tối, chủ tế nghe “cạch’’ đủ ba tiếng đèn sáng lại. Phút ấy gọi là phút “thiêng’’, “dập’’ chiêng trống để mừng và kính cáo với thần linh, thiên địa biết “lễ mật tắt đèn’’ đã thành côn

Vịnh miếu Trò

 

Xưa bà ẵm cháu, mẹ bồng con

Xem tích Trò Trám nay vẫn còn

Tiên tổ truyền kỳ di vật báu

Miếu Trò linh nghiệm dấu vàng son

 

Ai vãng Đền Hùng thăm đồ trận

Nhớ về miếu Trò nẻo sườn non

Nén hương vọng dâng vật kỳ tích

Ngàn thu đá tạc mãi trường tồn

 “Trò Trám’’ là tên gọi của địa phương, giới nghiên cứu gọi lễ hội “phồn thực’’, còn chúng tôi gọi lễ hội “Nõ Nường’’- tức lễ hội “vòng đời” -  là loại hình sinh hoạt cộng đồng cổ xưa nhất còn truyền kỳ lại đến ngày nay; nơi tập trung các hình thái hoạt động “ hèm tục’’ hàm chứa bản sắc văn hoá cộng đồng - rõ nét cá biệt của từng địa phương.

 

Đặc điểm của lễ hội “vòng đời’’- Trò Trám là “lễ mật’’, “tắt đèn” xướng diễn trò “linh tinh tình phộc” vào giờ “lành” nửa đêm (giờ tý). Hôm sau tiến hành lễ rước lúa “thần’’ và mở hội trình trò Tứ dân: “Sĩ, Nông, Công, Thương’’ để minh giải diễn trình tư tưởng của lễ hội trên các “kênh” khác nhau: phạm trù tâm linh và hiện thực. Ở đây, động thái “linh tinh tình phộc” và “chày cối” là hiện tượng “tục hèm” trừ đuổi tà ma triệt tiêu hiểm hoạ, cho vật thịnh dân an xóm làng trù phú “khuyển kệ minh kê”. Về tính hiện thực, động thái “linh tinh tình phộc’’ đó là phút “ khởi nguyên’’ sự sống cho một vòng đời, nên gọi là lễ “cầu đinh”.

1. Miếu trò xóm Trám 

Một ngôi miếu cổ ẩn mình bên ngòi nước trong khu rừng Trám, ở đây (cứ 2 hoặc 4 năm 1 lần – năm chẵn ) vào đầu xuân, nhân dân mở lễ hội diễn nhiều tích trò, nên gọi là miếu Trò, còn vì miếu Trò nằm trong rừng Trám nên gọi là miếu Trò Trám (nay rừng Trám không còn). Và xóm ở cạnh cũng gọi xóm Trám, hay Phường Trám, tên chữ xóm Cổ Lãm, thuộc làng có tên tục là Kẻ Gáp, tên chữ là Thạch Cáp, nay là xã Tứ Xã (có 32 xóm trong đó xóm Trám và xóm Bùi có đầu tiên) nằm trong vùng di tích đồ đá cũ của người Việt cổ như Gò Mun, Đồng Đậu con ,v.v… ở huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ. Cách Đền Hùng khoảng 5km về phía đông nam và nằm bên bờ tả ngạn sông Thao, trước đây chưa có con đê thì Tứ Xã là vùng đồng trũng ngập nước, thỉnh thoảng nổi nên những đồi gò (chỗ ở của người Việt cổ), lúa chỉ làm một vụ, quanh năm sinh sống bằng nghề vó bè, cá mú nên chuyện tát hôi hay được nhắc đến trong hát Trò Trám:

 

Không đâu vui bằng phường ta

Đàn ông đi tát đàn bà đi hôiTứ Xã xưa là vùng quê nghèo, nhưng có truyền thống hiếu học, có người đỗ đạt cao như Nguyễn Quang Thành - đỗ tiến sĩ lúc 24 tuổi (1680 đời vua Lê Hy Tông ) làm quan đến chức Thiểm đô ngự sử, hoặc quan võ Chử Đức Cương trấn ải biên thuỳ - được phong tứơc Quận công và còn có nhiều ông Cử, ông Cống khác như Nhất nguyên Nguyễn Tất An người soạn bài Văn tế miếu Trò... Ngoài ra còn có Chánh tổng Nguyễn Quang Hoà (cháu chắt của quan Nghè Nguyễn QuanThành) biệt danh “Tổng Cóc’’ một văn nhân hào hoa, giàu có trong “tình sử’’ với nữ sĩ Hồ Xuân Hương, con gái cụ Đồ Nghệ theo cha ra dậy học ở vùng đó. Phải chăng nữ sĩ Hồ Xuân Hương nhờ gắn bó với lời ca Nõ Nường của lễ hội Trò Trám, nên mới có được những bài thơ kiệt tác để lại cho đời.

 

Nói điều này, để thấy lễ hội Trò Trám là sản phẩm “lấp lánh’’ nền học vấn uyên thâm kia: “địa linh, nhân kiệt". Ngày nay Tứ Xã là nơi giàu có phù trú - có chợ trung tâm của cả vùng: đường lớn, ôtô khách ghé Đền Hùng xuôi Việt Trì, về Hà Nội.

 Hiện tại Sở văn hoá Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ đang tiến hành lập hồ sơ đưa Tứ Xã vào danh mục Cụm du lịch gồm ba điểm: Lễ hội Trò Trám, Di chỉ khảo cổ Gò Mun và nhà tưởng niệm Hồ Xuân Hương và Tổng Cóc, với tình sử lãng mạn đầy chất thơ, lung linh huyền ảo.

Lễ mật giờ lành

Miếu Trò thờ vật linh - sinh thực, tên tục gọi là bà “ Đụ Đị’’ (Dụ Dị) tên nôm Nõ Nường (hình 2) làm vật “hèm’’ để trừ tà, đuổi ma, triệt tiêu hiểm họa tai ương, cầu yên cầu phúc, cầu lộc cầu tài. Văn tế của miếu có đoạn viết:

 

Cảm tất thông

Cầu tất ứng

Bảo vật hộ dân

ức niên trường tại

Vạn cổ như tân

 Bài Văn tế có 21 câu, nội dung ngợi ca vật “hèm’’ Nõ Nường: Anh linh tuấn kiệt, Băng sương cốt cách, Kim ngọc tinh thần ...

Tiến trình của lễ: Lễ mật tắt đèn, xướng diễn trò “linh tinh tình phộc’’

Tiến trình của hội: Rước lúa “thần’’ trình trò Tữ dân, lời ca Nõ Nường.

Đặc điểm của lễ: Linh thiêng huyền bí thần chú vật hèm .

Đặc điểm của hội: Trò -vè - hí tiếu - trêu - ghẹo - múa vui

Nghĩa là toàn bộ trò diễn ở đây đều phải tuân theo chức năng hoạt động của Nõ Nường “ linh tinh tình phộc’’ - tức là “Đụ Đị’’. “Đụ Đị’’ là ngôn từ thuộc tầng ngôn ngữ cổ, ngữ nghĩa của nó hiện nay ở miền Trung đang còn hiểu: “Đụ’’ vừa là hành động, vừa là hình vật - cái Nõ, còn “đị’’ là hình ba góc - cái Nường.

 

Dân ca Miền Nam có câu:

 

Bông xanh bông trắng

Rồi lại vàng bông

Ơ “Nường’’ ơi !

 

Chữ “Nường’’ ở đây là tên gọi theo đặc điểm của giới tính cái (Nõ Nường), do đó giới nghiên cứu gọi lễ hội này là lễ hội “Phồn thực’’- nghĩa hẹp, chúng tôi gọi lễ hội “Nõ Nường’’( vòng đời) - nghĩa rộng - Nõ Nường là biểu tượng CON NGƯỜI.

 

Lễ hội kéo dài một đêm và một ngày: bắt đầu vào tối ngày 11 và kết thúc vào chiều ngày 12 tháng giêng âm lịch. Các trò diễn ra trong lễ ngoài hội, theo tuần tự. Đầu hôm ngày 11 gọi là cáo tế, dâng sớ.

 

Sau lễ cáo tế dâng sớ có lễ hát cúng đệm “đàn giằng xay’’ do cụ Từ thể hiện, đồng thời có lễ chầu chực .

 

Lễ chầu chực là ngồi ngóng đợi giờ lành gồm các bô lão và do chức sắc phân làm hai nhóm: nhóm chức sắc cao thì ngồi cùng cụ Từ hát thờ ở miếu, nhóm chức sắc thấp thì ngồi ở điếm Trám - cách miếu trò khoảng 200m (có cả đôi trò đã hoá trang , đến giờ thì một bô lão dẫn vào miếu ). Nghe tiếng gà gáy là nửa đêm, đến giờ lành (giờ tý) bước vào giờ chính lễ “Lễ mật’’.

Nghi lễ: “linh tinh phộc”.

Trước linh vị thần miếu - thần Nõ Nường, “ đôi trò’’ nam thanh, nữ tú đứng sau chủ tế, hướng mặt vào nhau, sẵn sàng đợi lệnh diễn trò. Chủ tế, sau khi khấn xong lời thần chú - cầu xin, gieo quẻ âm dương và lạy xong ba lạy thì bước lên cạnh bàn thờ, mở hòm lấy vật “hèm’’ (ngày trước vật hèm là cái mo nang và dùi gỗ vông, xong việc thì thả xuống hồ ngâm lấy nước tưới ruộng, để diệt trừ sâu rầy cho mùa màng cây trái xum xuê (thời chưa có thuốc trừ sâu); nay làm bằng gỗ, sơn đỏ, xong việc là cất vào hòm đặt trong tủ, để trên gác xép sau bàn thờ, còn gọi là bàn thờ thượng, có cầu thang, đến giờ chủ tế lên bê xuống lấy Nõ trao cho nam, lấy Nường trao cho nữ, rồi bước ngang sang phải (bàn thờ) ba bước, quay lại, chếch hướng về đôi trò, miệng hô: “linh tinh tình phộc’’ đồng thời hai tay khoát lên tạo thanh hình chữ “V’’ trước trán - đèn tắt, tuần tự hô ba lần.

 Theo lệnh tuần tự của mỗi lần hô, đôi trò vừa múa (đứng tại chỗ, hai tay cầm vật “hèm’’ đưa sang đưa về) miệng hát:

 Bên kia có nứng cùng chăng.

Bên này lủng lẳng như giằng cối xay

 

Hát xong hai câu này thì nữ cầm cái Nường đưa lên, nam cầm Nõ “phộc’’ vào và phải làm ba lần như thế. Trong đêm tối, chủ tế nghe “cạch’’ đủ ba tiếng đèn sáng lại. Phút ấy gọi là phút “thiêng’’, “dập’’ chiêng trống để mừng và kính cáo với thần linh, thiên địa biết “lễ mật tắt đèn’’ đã thành công. Sau đó chủ tế dẫn đầu “đám trò’’ chạy quanh miếu ba vòng theo ngược chiều kim đồng hồ, theo sau là dân làng: vừa chạy vừa la hét và gõ dùi vào mẹt để đuổi ma quỷ trừ hiểm họa cả năm cho dân làng, cùng mùa màng cây trái và gia súc...

 

Khi nghe hiệu chiêng trống “dập’’ và tiếng la hét ở ngoài miếu thì số người ở nhà trong phường cũng đồng loạt “gõ’’ dùi vào mẹt hoặc dùng chày “giã’’ vào cối và la hét theo để đuổi ma quỷ. Sau đó những đôi vợ chồng cũng phải thực hiện lễ thức “tình phộc’’ và những đôi nam nữ cùng dân làng đang ở quanh rừng Trám ngoài miếu, cũng phải thực hiện lễ thức “tình phộc’’ bổ sung “bồi’’ thêm, và ngày mai trong hội hát trình nghề Tứ dân chi nghiệp, cái nọ “phộc’’ vào cái kia và lời ca ẩn ngữ Nõ Nường lại “bồi’’ thêm lần nữa “quá tam ba bận’’. Tức là “tôi luyện’’ cho vật “hèm’’ đầy đủ linh nghiệm, thần hộ mệnh của toàn phường.

 

Tình phộc ngoài rừng Trám

 

Theo phong tục ngoài rừng trám các đôi trai gái và dân làng, cũng thực hiện lễ thức “ tình phộc’’ và nữ phải giữ một vật của nam để làm tin như khăn đội đầu.

Cô nào có chửa trong dịp đó là lễ “hèm’’ của làng thành công, đem lại điều may mắn cả năm cho gia đình và toàn phường. Phường sẽ đứng ra lo liệu tổ chức lễ cưới cho họ và không phải nộp khoản tiền “cheo’’. Đứa con sinh ra trong dịp “lễ mật’’ này là của quí, vật cưng của gia đình và toàn phường. Ngoài ra, cô gái có chửa ấy, nếu từ chối lấy anh gặp tối qua, mà muốn lấy một anh khác thì dân làng cũng vận động người con trai đó và anh ta cũng rất vui vẻ tự nguyện. Đồng thời những bà mà có chửa trong đêm đó thì gia đình càng phấn khởi với câu châm ngôn: Cá ao ai về ao ta, ta được.

 

Việc “tình phộc’’ ngoài rừng Trám sau “lễ mật’’ các già làng kể lại với nhiều tình tiết sinh động hấp dẫn, rằng: dù gặp bà Chánh Lý thì cũng thế, vì đi hội là phải theo hội để được “vật thịnh dân an’’. Có những đôi nam nữ sau đó thành chồng vợ và họ đã qua đời vài chục năm nay; vì tục “Tình phộc’’này đến đầu thế kỷ XX đã tàn, không diễn ra nữa.

 

3. Lời ca ẩn ngữ Nõ Nường

 

Lễ hội Trò Trám là “Lễ hội Nõ Nường’’ do đó toàn bộ tích trò diễn ra ở đây đều tuân theo chức năng hoạt động của Nõ Nường “linh tinh tình phộc’’. Vì thế, nếu lễ hội tại miếu thờ cụ Tổ nghề mộc, thì việc cưa, đục, đó là công việc của nghề thợ mộc. Trái lại, ở lễ hội Nõ Nường thì cái cưa “xẻ’’ gỗ, cái đục “ đục’’ gỗ là tượng trưng cho Nõ “ phộc’’ vào Nường; hoặc Sĩ chiếc bút “quyệt’’ vào nghiên mực, Nông cái cày “cắm’’ xuống đất, cần câu lưỡi “móc’’ vào mồm cá... và lời ca của nhóm “tứ dân chi nghiệp’’ (Sĩ, Nông, Công, Thương) cũng đều ám chỉ việc Nõ “ phộc’’ vào Nường. Lời ca có trên 350 câu thơ Lục bát không kể lời ứng tác tức thì. Xin trích lời ca của một số vai diễn sau đây:

Lời ca của cây đàn “Giằng xay’’. Đàn “Giằng xay’’ biểu tượng Nõ Nường, nhân vật trung tâm, giữ vai trò lĩnh xướng trong các vai diễn ở đây.

 

Đàn ông tậu ruộng ba bờ

Chớ để kẻ khác mang lờ đến đơm

 

Ruộng ba bờ là hình ba góc - cái “Nường’’ và “Lờ’’ là cái Nõ

 

Hoặc lời ca của người thợ cày:

 

Nhà ta vui cấy, vui cầy

Làm ăn vất vả tối ngày không thôi

Mong sao như đũa có đôi

Tháng năm năm việc, tháng mười mười công

 

Ý phiếm chỉ ở đây là chữ “cấy” và chữ “cày” khi hát được nhấn mạnh.

 

Hoặc lời ca của người thợ cấy:

 

Người ta đi cấy lấy công

Tôi nay đi cấy lấy ông chủ nhà

Đi cấy thì gốc chổng lên

Ngọn thời cắm xuống mới nên mùa màng

 

Trong đoạn hát của người thợ cấy có những từ “gốc” và “ngọn” đều là ẩn ngữ, phiếm chỉ về sự hoạt động của Nõ Nường: ngọn cỏ “cắm xuống” mới nên mùa màng, hoặc “lấy ông chủ nhà” là chồng mình - nghĩa là chị ta đi cấy ruộng nhà. Nếu rạch ròi ra thì cả đoạn này đều mang tính ẩn ngữ. Hoặc lời ca của cô mua bán “xuân”:

Còn xuân thì mua xuân đi,

Nay lần mai lữa còn gì là xuân

 

“Bán” và “mua” đều ở một chữ “xuân”.

 

Hoặc lời ca của anh đi câu:

 

Cành câu trúc anh đúc lưỡi câu vàng

Anh tra mồi nguộc[i] anh sang câu hồ

Người ta câu diếc câu rô

Anh đây câu lấy một cô không chồng

Có chồng thì nhả mồi ra

Không chồng thì cắn, thì nuốt, thì tha lấy mồi

Hoặc lời hát của anh cung bông:

 

Mặc ai căng lưới ngọn bè

Anh người phường Trám làm nghề cung bông

Cô nào bông cán đã xong

Muốn đi kịp chợ đón cung anh vào

 

Lời của chị kéo sợi:

 

Xin đừng quản thấp lo cao

Bông em đã nỏ anh vào mà cung

Sợi lôi ra bằng cổ chày

Phường chài đón hỏi mua dây kéo thuyền.

 

Trong đoạn này, chữ “cung anh” và “bông em” hoặc sợi bằng “cổ chày”... đều là ẩn ngữ.

 

Hoặc lời ca của anh thợ xẻ:

 

Người ta xẻ gỗ trên ngàn

Anh đây cưa lấy một nàng đương tơ

Em tài bắt chệch sớm trưa

Anh thì giỏi xẻ khéo cưa cùng phường

 

Ở đây các chữ “cưa”, “xẻ”, “bắt chệch” đều là ẩn ngữ.

 

Hoặc lời ca của thầy đồ và học trò:

 

Học trò đi học sách kinh

Tay cầm quản bút “quyệt” tình nghiên đây

Học trò đi học chữ thầy

Học nhồi học nhét bụng đầy văn chương.

 

 

Lễ hội Nõ Nường là lễ hội ngợi ca về sự cường tráng và hoạt động “linh tinh tình phộc” của Nõ Nường “vật hèm”: Nõ to và dài như “giằng cối xay” còn Nường thì rộng và sâu như “cối xay lúa’’đó là biểu tượng. Ở đây không còn quan niệm “dâm” và “tục” nữa.

 

Lời ca của nhóm hề pha trò:

 

- Gặp đây anh mới hỏi nàng

Cái gì lủng lẳng một gang trong quần

 

- Chàng hỏi thì thiếp thưa rằng

Cái đeo lủng lẳng là “giằng cối xay”.

 

- Ước gì em hoá ra trâu

Anh hoá ra chạc xỏ nhau cả ngày.

 

- Ước gì em hoá lưỡi cày

Anh hoá thành bắp lắp ngay bây giờ

 

- Bà già như ruộng đỉnh gò

Đang hạng con gái như kho ruộng mềm.

 Lễ hội Nõ Nường Trò Trám thuộc dòng lễ hội tục hèm, mang đậm đà bản sắc văn hoá của người Việt cổ. Nó được ra đời rất sớm, từ thời dân tộc ta mới hình thành tư tưởng. Đến thời đại văn minh Đông Sơn, dòng lễ hội vòng đời này được hoàn thiện về ý nghiã và nghệ thuật, được ghi lại thành hoa văn trên mặt trống đồng Ngọc Lũ và lan toả, truyền kỳ trong văn hoá đân tộc. Ngày nay việc tìm hiểu và bảo tồn dòng lễ hội này đó là điều cần thiết trong hội nhập quốc tế của đất nước ta.

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

loading...
loading...