Thứ 221102019

bantintuvan24.7@gmail.com

Quay về Bạn đang ở trang: Home Tư vấn Cuộc sống Tư vấn pháp luật Hôn nhân - gia đình Ly hôn theo yêu cầu của một bên, làm thế nào?

Ly hôn theo yêu cầu của một bên, làm thế nào?

Được đăng ngày Chủ nhật, 30 Tháng 12 2012 22:42
loading...

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

Hỏi: Hiện tại, dì của tôi muốn ly hôn với dượng tôi. Dì tôi đưa đơn kiện và có giấy triệu tập tại tại TAND thành phố Nha Trang, nhưng dượng tôi không đến, ngay ngày hôm đó đã mang đồ về quê ở Quảng Ngãi. Hai vợ chồng đã tạm trú tại Hòn Rới Nha Trang được 4 năm, có đăng kí tạm trú. Hộ khẩu dì tôi ở Kiên Giang, của dượng tôi ở Đức Phổ, Quảng Ngãi. Khi lên tòa, Thẩm phán yêu cầu phải có hai vợ chồng mới giải quyết, nhưng dượng tôi cứ lẩn tránh khắp nơi không lên. Trong trường hợp đó dì tôi phải làm sao để có thể đơn phương xin ly hôn? Xin chân thành cảm ơn.

Đáp

 Theo quy định tại Điều 85 và Điều 91 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn” và “Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án xem xét, giải quyết việc ly hôn”. Theo đó, khoản 10 của Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 có quy định cụ thể:

 “a. Khi một bên vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn thì Toà án phải tiến hành hoà giải. Nếu hoà giải đoàn tụ thành mà người yêu cầu xin ly hôn rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án áp dụng điểm 2 Điều 46 Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án dân sự ra quyết định đình chỉ việc giải quyết vụ án.

 Nếu người xin ly hôn không rút đơn yêu cầu xin ly hôn thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ thành. Sau 15 ngày, kể từ ngày lập biên bản, nếu vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng không có sự thay đổi ý kiến cũng như Viện Kiểm sát không phản đối thì Toà án ra quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành. Quyết định công nhận hoà giải đoàn tụ thành có hiệu lực pháp luật ngay và các đương sự không có quyền kháng cáo, Viện Kiểm sát không có quyền kháng nghị theo trình tự phúc thẩm.

 b. Trong trường hợp hoà giải đoàn tụ không thành thì Toà án lập biên bản hoà giải đoàn tụ không thành, đồng thời tiến hành mở phiên toà xét xử vụ án ly hôn theo thủ tục chung”.

 Như vậy, trường hợp này nếu Tòa án đã nhận được đơn xin ly hôn của dì bạn thì có thể hiểu đây là yêu cầu ly hôn của một bên. Theo các quy định pháp luật nói trên, Tòa án phải thực hiện thủ tục niêm yết công khai để triệu tập bị đơn theo quy định tại khoản 2, khoản 3, Điều 154 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, cụ thể là:

 “2. Việc niêm yết công khai văn bản tố tụng do Tòa án trực tiếp hoặc ủy quyền cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo được thực hiện theo thủ tục sau đây:

 a) Niêm yết bản chính tại trụ sở Tòa án, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;

 b) Niêm yết bản sao tại nơi cư trú hoặc nơi cư trú cuối cùng của người được cấp, tống đạt hoặc thông báo;

 c) Lập biên bản về việc thực hiện thủ tục niêm yết công khai, trong đó ghi rõ ngày, tháng, năm niêm yết.

 3. Thời gian niêm yết công khai văn bản tố tụng là mười lăm ngày, kể từ ngày niêm yết”.

 Nếu Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà người chồng cố tình không có mặt thì tòa lập biên bản về việc không tiến hành hòa giải được và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Nếu người chồng vẫn không có mặt tại phiên tòa thì tòa án sẽ xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004, cụ thể là:

 “Điều 200. Sự có mặt của bị đơn tại phiên toà

 1. Bị đơn phải có mặt tại phiên toà theo giấy triệu tập của Toà án; nếu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì phải hoãn phiên toà.

 2. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt họ”.

Như vậy, theo các quy định trên, Tòa án sẽ giải quyết yêu cầu ly hôn cho dì bạn kể cả khi người dượng không chịu có mặt tại phiên tòa.

 

Các văn bản liên quan:

 1. Bộ luật 24/2004/QH11 Tố tụng dân sự

 2. Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP Của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao số 02/2000/NĐ-HĐTP ngày 23 tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000

 3. Luật 22/2000/QH10 Hôn nhân và gia đình

CTV Minh Hà - Bản tin tư vấn

(Thông tin trả lời mang tính chất tham khảo)

Theo MOj.gov.vn

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

loading...
loading...