Thứ 413122017

bantintuvan24.7@gmail.com

Quay về Bạn đang ở trang: Home Tư vấn Cuộc sống Tư vấn tài chính Những yếu tố ảnh hưởng đến giá Vàng trên thị trường thế giới

Những yếu tố ảnh hưởng đến giá Vàng trên thị trường thế giới

Được đăng ngày Thứ năm, 08 Tháng 12 2016 11:31
loading...

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

- Vàng là một loại hàng hóa, do đó dao động giá của vàng phải được xem xét dựa trên các yếu tố tác động của cung và cầu. Nguồn cung vàng trên thế giới đến từ các quốc gia có trữ lượng vàng lớn và sản lượng xuất khẩu có tầm ảnh hưởng đến thị trường như Nam Phi, Mỹ, Canada, Nga, Úc... .


Xét về nhu cầu vàng thì phải thấy rằng, toàn thế giới đều muốn có thứ kim loại này và tùy vào mục đích sử dụng mà có những nhu cầu khác nhau: phục vụ cho hoạt động chế tác trang sức, tích lũy, đầu tư, thanh toán…


Tùy vào từng thời điểm mà nhu cầu tăng cao trong những thời kỳ khác nhau và đôi khi xảy ra cùng lúc, do đó tác động mạnh đến cầu vàng trong cùng thời điểm.

Hiện nay, USD được xem là đồng tiền mang tính thanh toán toàn cầu, do đó theo thông lệ, các loại hàng hóa hay ngoại tệ khi giao dịch trên thế giới thường được định giá theo USD và vàng cũng không ngoại lệ. Chính vì vậy, bất cứ tác động nào ảnh hưởng đến giá trị đồng USD thì cũng tác động trực tiếp đến biến động giá cả của vàng.

Khi xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh tế Mỹ và những yếu tố chính được xem là “chỉ báo” phản ánh sức mạnh hay suy yếu của nền kinh tế Mỹ, đó là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường tín dụng và thị trường vốn.
 
Ngoài ra, một chỉ báo không thể không kể đến khi đánh giá giá trị đồng USD, đó là quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Bất kỳ quyết định nào ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm, giữ nguyên lãi suất của Mỹ do FED công bố qua các kỳ họp của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) đều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá trị đồng USD.
Dù quyết định tăng/giảm lãi suất của FED với mục đích kích thích hay kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế hay nhằm giải quyết các vấn đề khác thì trong ngắn hạn hay tức thời, quyết định tăng/giảm lãi suất của Mỹ cũng sẽ làm tăng/giảm giá trị của đồng USD do trong ngắn hạn hay tức thời, giá trị của đồng USD được nâng lên/hạ xuống so với các ngoại tệ khác trong mối tương quan so sánh.
 
Khi giá trị của đồng USD dao động, giá trị các loại hàng hóa được định giá bằng USD cũng dao động tức thời theo quyết định của FED. Ví dụ, trước khi FED cắt giảm lãi suất cơ bản, 1 ounce vàng có giá là 1000 USD nhưng khi FED cắt giảm lãi suất thì vàng “vô tình” bị định giá thấp do USD mất giá nên thị trường sẽ tự động điều chỉnh bằng cách nâng giá vàng lên, trong trường hợp này 1 ounce vàng sẽ có giá là 1050 USD....


Như vậy ý Chúng tôi muốn nói là vàng bị tác động chính bởi USD, mà USD được quyết định bởi FED mà các quyết định bởi FED được dựa trên các tin kinh tế vĩ mô của Mỹ. Như vậy: Những tin Vĩ Mô nào cũng Mỹ ảnh hưởng mạnh nhất đến Vàng???

1. Tin Bảng lương phi nông nghiệp Mỹ và Tin Tỷ lệ thất nghiệp.

* Ý nghĩa bảng lương phi nông nghiệp của Mỹ
Đây là một trong những bản báo cáo được mong đợi nhất của Mỹ, Non-farm payrolls là một bản báo cáo kịp thời về bức tranh của thị trường việc làm ở Mỹ : gia tăng, tụt giảm, số giờ làm việc, số lương thưởng ... Những tư liệu trong bản báo cáo được thu thập từ 2 cuộc khảo sát là Household Surveys và Establishment ( payroll) Survey ( Báo cáo theo hộ gia đình và báo cáo theo bảng lương).

Trong đó Establishment Survey được ưa chuộng hơn vì bản báo cáo này đánh giá tình trạng của các doanh nghiệp chứ ko chỉ gói gọn trong các hộ gia đình. Bản báo cáo có những chỉ số đầy ý nghĩa như : Change in nonfarm payrolls, Unemployment, Manufacturing Payrolls, và Average Hourly Earnings.

Trong quá trình khai thác cũng như phân tích về bản báo cáo mình sẽ có cơ hội để mở ra trước mắt các bạn nhiều hơn nữa những tin tức (news) và yếu tố liên quan đến tình trạng lao động.

Nonfarm Payrolls (NFP)

Nonfarm payrolls (NFP) là một báo cáo về tình hình kinh tế của Mỹ được thông báo hàng tháng.

Tên của bản báo cáo được biên soạn để sử dụng cho những công ty về sản xuất, xây dựng, và các công ty chế tạo sản phẩm. Ban Thống Kê Lao động của bộ Lao động cho ra những tài liệu sơ bộ của cuộc khảo sát dành cho tháng trước đó. Tin ra vào thời điểm 8h30 ET thức đầu tiên của hàng tháng, hoặc theo Ban này bản báo cáo sẽ được đưa ra vào thứ 6 thứ 3 trong tháng sau khi có kết luận về tài liệu của tuần

Các con số về NFP được sử dụng để đại diện cho số công việc gia tăng hay mất đi trong kinh tế trong tháng gần nhất, ko bao gồm những công việc liên quan đến ngành công nghiệp trồng trọt. Vì ngành này thường có tính chất thuê nhân công theo mùa mà điều này sẽ làm cho chỉ số xung quanh thời điểm gặt ko còn chính xác nữa ( vì các nông trang thường tăng thêm số công nhân và sau đó thì chỉ số vào mùa gặt mới được công bố). Bản báo cáo này cũng cho biết về số giờ làm việc trung bình hàng tuần và số thu nhập kiếm được bình theo tuần của tất cả những công nhân thuộc những ngành có trong báo cáo.

NFP bao gồm các thông tin sau :
- Sự thay đổi về chỉ số NFP
- Tỉ lệ thất nghiệp
- Thay đổi về chỉ số Manufacturing Payrolls : chỉ số Payrolls dành riêng cho các ngành sản xuất.
- Thu nhập trung bình tính theo giờ
- Số giờ làm việc trung bình tính theo tuần.

Nói chung báo cáo phản ánh khoảng 80% tổng số công nhân làm việc để tăng sản lượng GDP của Mỹ và đưowjc sử dụng để hỗ trợ các chính khách và các nhà kinh tế đưa ra những chính xác mới để quyết định hiện trạng của kinh tế và phỏng đoán tương lai.

Ý nghĩa của NFP đối với nền kinh tế:

Nói chung, khi chỉ số lao động gia tăng có nghĩa là các công ty đang phát triển và cần tuyển dụng nhân lực và điều đó cũng đồng nghĩa với việc nhiều người sẽ có việc làm và có tiền để chi tiêu vào các sản phẩm hay dịch vụ giúp kích thích phát triển. Điều ngược lại cũng hoàn toàn đúng trong trường hợp NFP hạ.

Ý nghĩa của Nonfarm với thị trường tài chính:

Trong khi tổng số việc làm tăng lên hay giảm đi đối với nền kinh tế là một kim chỉ nam rất quan trọng cho hiện trạng kinh tế thì báo cáo này lãi có những thông kê mà hoàn toàn có ảnh hưởng đến thị trường tài chính:
- Chỉ số thất nghiệp đối với kinh tế như một tỷ lệ của toàn bộ lực lượng lao động. Đây là một phần quan trọng của bản báo cáo vì số người thất nghiệp là một dấu hiệu của tổng thể kinh tế, và đây là một con số được ngân hàng Liên Bang theo dõi rất kĩ vì khi chỉ số này hạ xuống mức qúa thấp ( thường là dứới 5%) thì lạm phát sẽ bắt đầu hình thành vì các doanh nghiệp sẽ phải trả nhiều tiền hơn để thuê những thợ lành nghề và việc giá thành sản phẩm gia tăng cũng là điều đương nhiên.

- Chỉ ra bộ phận nào có sự tăng hay giảm về công việc: Bản baó cáo có thể đưa ra sự cảnh báo cho những trader về mảng kinh tế nào có thể bung nổ phát triển.

- Thu nhập trung bình hàng giờ : Đây là một yếu tố quan trọng vì nếu cùng một lượng nhân công như nhau nhưng lại kiếm nhiều hơn hay ít hơn cho một khối lượng công việc , điều này về căn bản là nói lên việc cần phải tăng hay giảm nhân công cho khối lượng công việc đó.

- Dùng để xem lại chỉ số của lần ra tin NFP trước đó: Một yếu tố quan trọng khác của báo cáo là có thể gây ra những biến động trong thị trường vì traders tự lên khung những chiều hướng phát triển của news dựa vào chỉ số cũ.

2. Tin Lạm phát CPI
3. Tin Nhà đất Mỹ
4. Tin GDP
5. Tin niềm tin tiêu dùng hay tin khảo sát niềm tin
6. Thông tin sản xuất và buôn bán lẻ của Mỹ

===> Nếu 6 thông tin trên Tốt ===> chứng tỏ kinh tế Mỹ dần hồi phục ===> tạo công ăn việc làm cho người dân Mỹ ===> Tỷ lệ thất nghiệp giảm ===> tác động đến chính sách lãi suất Mỹ ===> làm cho USD tăng giá ===> làm cho Vàng giảm.

Do đó, yếu tố thứ 7 chính là FED. Sẽ tác động rất mạnh lên Vàng. Nên mọi lời phát biểu của FED rất đáng lưu ý vì nó sẽ tác động rất mạnh lên vàng.

Song song đó, ngoài những yếu tố thông tin kinh tế Mỹ nêu trên tác động mạnh đến Vàng còn có những yếu tố sau đây:

- Chính sách lãi suất của các nước lớn khác so với Mỹ như Trung quốc, Úc, Canada, Châu Âu....

- Tình hình nợ công của các nước lớn khác, điển hình là Châu Âu.

- Căng thẳng chính trị giữa các nước , làm phức tạp thêm tình hình, gây nguy cơ chiến tranh
 
- Nguồn cung của Vàng và tâm lí traders

*** Khi Vàng tăng hay giảm mạnh đều có lí do và nguyên nhân, do đó chúng ta phải tự mình đặt ra câu hỏi là " TẠI SAO VÀNG GIẢM MẠNH HAY VÀNG TĂNG MẠNH?", " Và nếu lí do đó được duy trì thì liệu vàng có còn tiếp tục tăng hay nếu nhân tố đó mất đi thì Vàng sẽ thế nào?". Chúng ta phải tìn ra được nguyên nhân và lí do khiến Vàng tăng hay giảm mạnh để từ đó sẽ có câu trả lời chính xác.

Ví dụ cụ thể: Vàng đang tăng mạnh lên $1,400 do những nguyên nhân sau:
+ SCB Mỹ và 1 số nước như kv Châu Âu thấp ==> lạm phát, chính sách "tung" tiền ra thị trường ===> làm Tiền mất giá ==> vàng trở thành công cụ thay thế, tình hình nợ công châu Âu, kinh tế Mỹ còn yếu thông qua tỷ lệ thất nghiệp cao.

Như vậy nếu các yếu tố trên vẫn còn bền vững thì Vàng sẽ tiếp tục tăng, và ngược lại Vàng phải giảm mạnh do vai trò phònhg thủ đầu tự thay thế của vàng bị mất trước tình hình kinh tế phát triển ===> LSCB được tăng ===> Tiền có gái trị hơn ===> Vàng phải giảm.

Và yếu tố nào giúp ta nhận ra tình hình kinh tế Mỹ hay thế giới đã ổn định và khả quan hay chưa? Đó là các thông tin kinh tế Vĩ Mô của Mỹ, Châu Âu, Trung Quốc, Anh, Canada, Úc... công bố hàng tuần.

Tóm lại:
Vàng bi tác động bở các nhân tố:
1. Tin kinh tế vĩ mô Mỹ (tin lao động việc làm, tin nhà đất, tin sản xuất, tin GDP, Tin niềm tin tiêu dùng và đặc biệt là tin FED)
2. Ảnh hưởng bởi tình hình nợ công các nước
3. Chính sách tiền tệ của các nước lớn khác trên thế gới
4. Căng thẳng chính trị
5. Nguồn cung và cái chính là tâm lí traders.

Dưới đây, Chúng tôi xin trình bày thêm các nhân tố tác động đến đồng USD. Vì thông qua đồng USD mạnh hay yếu sẽ tác động đến Vàng tăng hay giảm
Các nhân tố ảnh hưởng đến đồng USD

Sơ nét một số các chỉ số, thông tin kinh tế và các nhân tố ảnh hưởng chính của Mỹ thường được sử dụng trong phân tích

a) Thông tin kinh tế
- Tổng sản phẩm quốc nội (GDP): Bất cứ một quốc gia nào cũng muốn duy trì một nền kinh tế tăng trưởng cùng với sự ổn định tiền tệ và công ăn việc làm cho dân cư mà GDP là một trong những tín hiệu cụ thể của những nỗ lực của chính phủ. Vì thế việc nghiên cứu khuynh hướng của sự tăng trưởng GDP, tỉ lệ thất nghiệp cũng như tỉ lệ lạm phát giúp chính phủ có thể thay đổi chính sách tiền tệ để đạt được những mục tiêu đã đề ra. Ví dụ khi có thông tin GDP của nước nào đó tăng lên thì đó là tin tốt cho đồng tiền nước đó…

- Chỉ số giá cả tiêu dùng(CPI): Là một trong những chỉ số kinh tế quan trọng của một quốc gia. Vì vậy sự gia tăng nhanh hoặc giảm nhanh của lạm phát là một dấu hiệu cho thấy rất có khả năng có một sự thay đổi trong chính sách tiền tệ.

- Sản lượng công nghiệp (Industrial Production): Vì giá trị của ngành công nghiệp chiếm một tỉ trọng lớn trong GDP nên một sự thay đổi nhỏ của chỉ số này cũng có thể gây ra những thay đổi lớn về tốc độ tăng trưởng GDP và vì thế sẽ ảnh hưởng đến thị trường tiền tệ của mỗi quốc gia.

- Số lượng hàng hóa bán lẻ (Retail sales): Bằng việc theo dõi số lượng hàng hóa bán lẻ trong một thời gian nhất định chính phủ có thể đánh giá được một cách gần chính xác sự tăng trưởng của việc tiêu dùng cá nhân của dân cư, mà việc tiêu dùng của xã hội đóng góp rất lớn vào giá trị của GDP.

- Hàng tồn kho (Inventories): Tỉ lệ hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng đối với sự phát triển của nền kinh tế. Ví dụ nếu tỉ lệ tồn kho tăng cao tức là sức mua trong nền kinh tế đang có chiều hướng giảm sút sẽ gây ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất hàng hóa trong nền kinh tế và ngược lại.

……….

- Ngoài ra trên thị trường còn có rất nhiều các chỉ số quan trong khác mà bất cứ một dealer nào cũng quan tâm như: cung tiền M2, chỉ số thất nghiệp, doanh số nhà mới khởi công, doanh số bán nhà hiện có, đơn hàng nhà máy, đơn hàng hoá lâu bền, chi tiêu tiêu dùng, thu nhập cá nhân, bảng lương phi nông nghiệp, chỉ số ISM ngành sản xuất và dịch vụ, cán cân thương mại…

b)- FED-FOMC- Fed fund Rate & Discuont rate
Federal Reserve Bank ( FED): Cục dự trữ liên bang Mỹ.
Được toàn quyền thiết lập chính sách tiền tệ của Mỹ với mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao và lạm phát thấp. chính sách chính của FED được thể hiện ở hoạt động thị trường mở, lãi suất chiết khấu ( Discuont rate), lãi suất mục tiêu (Fed Fund rate).

Federal Open Market Committee ( FOMC): ủy ban điều hành thị trường mở, chịu trách nhiệm ra quyết định điều hành chính sách tiền tệ, quan trọng là công bố lãi suất cơ bản 8 lần/ năm. 12 thành viên của hội đồng bao gồm 7 thành viên của hội đồng thống đốc ( Board of Governors), chủ tịch của ngân hàng dự trữ New York ( Federal Reserve Bank of New York), và 4 thành viên còn lại được luân phiên giữa chủ tịch 11 Ngân hàng dự trữ còn lại.

Fed fund Rate (lãi suất mục tiêu, lãi suất cơ bản của đồng USD): đây là mức lãi suất quan trọng nhất, nó là mức lãi suất mà các tổ chức tài chính sử dụng cho những khoản vay nợ hay gửi tiền qua đêm. Thông thường khi có sự thay đổi trong mức lãi suất này ám chỉ dấu hiệu sự thay đổi trong chính sách tiện tệ của Fed. Những thông báo liên quan tới vấn đề này gây ảnh hưởng rất lớn lên thị trường chứng khoán, trái phiếu, thị trường ngoại hối.

Discuont rate (lãi suất chiết khấu): lãi suất mà Fed áp dụng cho ngân hàng thương mại khi vay lại Fed, sự thay đổi trong mức lãi suất này cũng ám chỉ đến chính sách tiền tệ của Fed. Thông thường discount rate thấp hơn Fed Fund rate.

c) Trái phiếu và lãi suất kỳ hạn 3 tháng của USD
-10 year treasury note: lãi suất trái phiếu 10 năm.
Sau khi phát hành trái phiếu kỳ hạn 30 năm chấm dứt vào tháng 10/2001. Trái phiếu kỳ hạn 10 năm trở thành tiêu chuẩn cho mức lãi suất dài hạn. Đó là dấu hiệu quan trọng nhất trên thị trường về tín hiệu lạm phát. Thông thường thị trường dùng mức lợi tức ( hơn là giá) để xác định mức độ trái phiếu. Giá trái phiếu có tỷ lệ nghịch chiều với tỷ lệ lãi suất.

Không có mối quan hệ rõ ràng giữa trái phiếu dài hạn và đồng USD tuy nhiên có thể sử dụng ý tưởng sau: một sự sụt giảm trong giá trị của trái phiếu ( do lợi tức tăng) thông thường do tác động của lạm phát tăng có thể gây áp lực lên USD.

- Lợi tức 10 năm trái phiếu: thị trường trái phiếu ngoại hối thường đánh giá sự khác biệt giữa lợi tức trái phiếu kỳ hạn 10 năm với các loại trái phiếu cùng kỳ hạn của các nước khác như Đức ( German 10 year bund), Nhật (10 year JGB), Anh (10 year gilt), sự chênh lệnh có thể tác động đến biến động tỷ giá, thường thì một sự gia tăng của lợi tức 10 năm của trái phiếu Mỹ làm cho đồng USD tăng giá.

- 3 month Eurodollar Deposits: đây là mức lãi suất kỳ hạn 3 tháng của USD tại các ngân hàng ngoài biên giới nước Mỹ.

Thông thường được sử dụng như một tiêu chuẩn trong việc xác định sự chênh lệch lãi suất từ đó có thể dự báo biến động tỷ giá. Ví dụ như trường hợp tỷ giá USDJPY, nếu như lãi suất chênh lệch giữa eursdollar và euryen càng lớn thì khả năng tỷ giá USDJPY bị tác động theo xu hướng tăng lên.

d) Các nhà chính trị hay các lãnh đạo kinh tế
Các thành viên chính phủ hay những người đứng đầu các ngân hàng trung ương, chính những người này có thể gây ảnh hưởng tới giá trị của một loại tiền tệ nào đó qua những gì họ noí, những gì họ làm. Các chức vụ quan trọng như: tổng thống, thủ tướng, thống đốc hay chủ tịch các ngân hàng… luôn có sự thay đổi theo nhiệm kỳ hay có lý do khác. Nhưng chúng luôn được quan tâm chặt chẽ từ các nhà đầu tư, dù ai ngồi vào các vị trí đó thì những quyết sách của họ đều rất quan trọng và đều có những thay đổi, những tác động nhất định tới thị trường ngoại hối.

Ở NHTW, đối với Mỹ là Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) thì khi tỷ giá biến động theo một chiều hướng bất lợi tác động xấu tới nền kinh tế, NHTW có thể can thiệp vào nhằm ổn định tỷ giá và đưa tỷ giá trở về tầm kiểm soát theo hướng có lợi cho chính sách tiền tệ. Việc can thiệp này trong những năm gần đây thường thực hiện bằng hai cách: can thiệp miệng ( verbal intervention) hoặc can thiệp trực tiếp vào thị trường.

e) Những nhân tố chính trị ( ví dụ điển hình)
Những nhân tố chính trị đôi khi có thể tác động và gây ra ảnh hưởng lớn đến biến động tỷ giá. Nó làm tỷ giá biến động khá nhanh và mạnh tùy theo từng trường hợp có thể kéo dài hay chấm dứt nhanh chóng.
- Việc Anh gia nhập EU.
- Việc các nước Châu Âu không ký hiệp ước Châu Âu.
- Việc bầu cử tổng thống Mỹ.
- Việc ông Sarkozy thắng cử tổng thống Pháp.
- Căng thẳng Trung Đông, Bắc Triều Tiên…
- Vấn đề định giá lại CNY.
Ngoài những yếu tố cơ bản trên thì những nguyên nhân sau làm biến động tỷ giá như:

+ Sự gia tăng đáng kể các thành viên tham gia thị trường nhằm mục đích tìm kiếm các cơ hội sinh lới khi tỷ giá biến động. đối với các đối tượng này thì tỷ giá biến động theo hướng nào là không quan trọng cái chính họ cần là thị trường phải biến động.
+ Các luồng vốn di chuyển nhằm thanh toán sự mất cân đối trong cán cân thanh toán quốc tế giữa các quốc gia.Các nhà đi vay cũng có xu hướng tìm kiếm các nguồn vốn bằng các đồng tiền khác nhau nhằm giảm chi phí vay, các quỹ đầu tư cũng di chuyển nguồn vốn vào các đồng tiền có lợi nhuận cao nhất. Cộng thêm các biến động về lãi suất càng làm các quá trình trên diễn ra mạnh mẽ.

Các nhà đầu cơ trên thị trường bao gồm:
1.Nhà đầu cơ hay leveraged investor (Hedge fund).

2.Định chề đầu tư (pension fund, thường thông qua các công ty quản lý tài sản, investmen bank)
3.Các công ty

4.Các loại khác (bao gồm cả các NHTW)

+ Tỷ giá chéo: tỷ giá USD và một đồng tiền khác đôi khi bị ảnh hưởng bởi các cặp tỷ giá khác. Ví dụ như một sự gia tăng nhanh chóng của đồng JPY so với EUR (EURJPY) tạo nên một sự mất giá của EUR, bao gồm luôn cả sự sụt giảm EURUSD.

+ Tác động của nhân tố mang tính chu kỳ: Đây là các hoạt động ngoại có tính chất lặp lại hàng năm trong những thời điểm nhất định, có thể gây ra những biến động tỷ giá mà ta có thể định trước, tuy nhiên quá trình này không phải lúc nào cũng xảy ra giống nhau mà có thể có sự điều chỉnh biến động khác đi.

+ Tác động của những nhân tố khác: Những nhân tố khác, ít xảy ra thường xuyên cũng có tác động lớn tới biến động tỷ giá như các kỳ họp của G7, IMF, hội nghị kinh tế các nước, các khu vực … các thông tin mua bán, sát nhập các công ty có giá trị trên hàng tỷ USD.
 
Xem thêm
 
Vàng và các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng
 
 

Nếu không có sự hiểu biết đầy đủ về thị trường vàng và các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng thì rất khó để đầu tư vào thị trường này có hiệu quả. Bài viết này sẽ nói rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến giá vàng để giúp các nhà đầu tư có thêm kiến thức trong việc đầu tư vào thị trườn giàu tiềm năng nhưng cũng đầy rủi ro này.

 

Hiện tại, trên thị trường vàng hiện nay đang tồn tại một số yếu tố chính ảnh hưởng đến giá vàng:

Quan hệ về nguồn cung vàng

Trước tiên, ta có thể nói rằng, vàng là một loại hàng hoá, một loại hàng hoá đặc biệt. Chính vì mang tính chất của một loại hàng hoá nên vàng cũng chịu tác động của quy luật cung cầu trên thị trường. Xét về nguồn cung của vàng, vàng được cung cấp bởi chủ yếu từ những nước có trữ lượng vàng lớn, sản lượng xuất khẩu lớn có tầm ảnh hưởng đến thị trường vàng thế giới: Nam Phi,Mỹ,Nga,Canada, Úc,… Theo dự báo, nguồn cung vàng cho thế giới sẽ giảm nhẹ khoảng 1,3% so với năm 2008 đạt mức 2.295 tấn(tương đương với 73,7 triệu ounce) nhưng vẫn đang cao hơn so với nhu cầu thực tế. Trong năm 2009, dự báo thế giới sẽ dư khoảng 300 tấn vàng (tương đương với 9,1 triệu ounce).

Nguồn cung vàng từ khu vực Nam Phi, Úc và Canada sẽ giảm, nhưng lại tăng tại các nước như Trung Quốc, Nga và Peru. Điều đáng lưu ý là, nếu giá vàng tăng mạnh như trong thời gian vừa qua, nhiều khả năng các nước sẽ điều chỉnh tăng sản lượng.

Ngân hàng trung ương một số nước như Italia và Đức, thậm chí cả IMF đang cân nhắc bán vàng ra. Thỏa thuận bán vàng của các ngân hàng trung ương (CBGA) sẽ hết hiệu lực vào tháng 9 năm nay. Nhưng, khả năng các ngân hàng trung ương bán ra với khối lượng lớn vào thời điểm cuối năm nay là không nhiều.

Trong khi đó, nhu cầu về vàng trong năm 2009 có thể tăng nhẹ so với năm ngoái. Tuy nhiên, hiện tại cầu tại một số thị trường đã qua thời đỉnh điểm. Ấn Độ - một nước nhập khẩu vàng khá lớn đã không nhập vàng trong tháng 2/2009 do giá vàng quá cao. Trong khi đó, cùng kỳ năm ngoái, quốc gia này đã nhập về 23 tấn. Trung bình hàng năm, Ấn Độ nhập nhập khoảng 500-700 tấn vàng. Trong thời điểm kinh tế bất ổn, việc đi tìm một công cụ đầu tư và tích trữ an toàn như vàng là điều rất dễ hiểu. Hiện tại nhu cầu vàng đang được hỗ trợ vững chắc bởi các yếu tố như nhu cầu mua vàng của một số ngân hàng trung ương nhằm tăng dự trữ vàng; nhu cầu về đầu tư vàng thỏi và đầu cơ theo chỉ số giá vàng (ETF) và nhất là nhu cầu nắm giữ vàng của các nhà đầu tư…

Thêm vào đó, chính vì loại hàng hoá đặc biệt nên vàng có tính hấp dẫn đối với tất cả mọi người. Ai cũng muốn sở hữu và tích luỹ chúng vào các mục đích riêng của mình:trang sức, tích luỹ, đầu tư, thanh toán, … Đối với nền kinh tế đang bất ổn như hiện nay, nhu cầu vàng ngày càng gia tăng cao.

Ảnh hưởng của USD đến giá vàng

Vì là một loại hàng hoá nên giá vàng cũng bị ảnh hưởng,tác động bởi các đồng tiền nội tệ và ngoại tệ mua nó mà ở đây chủ yếu là đồng USD

Chính vì thế, việc giao động đồng USD cũng ảnh hưởng không nhỏ tới giá vàng. Khi xem xét giá trị đồng USD, người ta thường đánh giá thông qua nền kinh tế Mỹ và những yếu tố chính được xem là “chỉ báo” phản ánh sức mạnh hay suy yếu của nền kinh tế Mỹ, đó là tình trạng thị trường nhà ở, thị trường lao động, thị trường tín dụng và thị trường vốn.

Như ta đã biết, thị trường bất động sản là nơi khởi nguồn, là nơi bắt đầu cho cuộc đại suy thoái của kinh tế Mỹ. Sự suy giảm rồi kết quả là sụp đổ của thị trường bất động sản sẽ kéo theo sự giảm giá trị của đồng USD. Sự suy giảm giá trị của đồng tiền có sức ảnh hưởng lớn với nền kinh tế cũng kéo theo sự suy giảm về niềm tin nơi các nhà đầu tư về đồng tiền này. Các nhà đầu tư đang dần chuyển sang một loại tiền tệ khác có tính ổn định cao hơn và có tính an toàn hơn USD. Từ Euro,sang Bảng Anh, và thậm chí có thể là dùng vàng là đơn vị chuyển đổi hàng hoá.

Thị trường bất động sản sụp đổ, hậu quả kéo theo là sự đi xuống của phố Wall. Chứng khoán Mỹ đang đứng trước những chuỗi ngày dài đen tối nhất trong lịch sử tồn tại của mình. Cổ phiếu của các hãng lớn lần lượt trượt dốc, không chỉ khiến các đại tỷ phú mất đi phần lớn tài sản của mình mà còn khiến nhiều công ty vì thế mà phá sản. Chuỗi dài ngày đen tối của kinh tế Mỹ được kéo dài cùng với chuỗi các công ty, ngân hàng Mỹ cùng “rủ” nhau phá sản, xin trợ cấp. Mới đây nhất chính là tập đoàn ôtô khổng lồ GM đang đứng bên bờ vực, chỉ đợi ngày phá sản nếu không có sự ra tay cứu giúp kịp thời của Mỹ.

 

Từ Lehman Brothers đến Merrill Lynch rồi AIG,… tất cả đều có chung một kết cục dù trước đây là những đại gia trên thị trường tài chính. Điều gì sẽ xảy ra với nền kinh tế lớn nhất thế giới nếu các tập đoàn lớn cùng phá sản? Đó thực sự là một thảm hoạ cho kinh tế thế giới mà ngay cả các nhà kinh tế học chuyên nghiên cứu về suy thoái kinh tế hàng đầu cũng không dám tưởng tượng ra. Chủ tịch Cục dự trữ Liên Bang Mỹ FED, Ben S. Bernanke,một nhà kinh tế học nghiên cứu suy thoái kinh tế Mỹ những năm 1930 chắc chắc sẽ là người hiểu rõ nhất điều gì sẽ đến với đầu tàu kinh tế thế giới.

Các công ty phá sản cũng đồng nghĩa với việc số lượng người thất nghiệp cũng tăng lên theo từng ngày. Hàng loạt các công ty sát nhập, phá sản nhằm giảm bớt chi tiêu cho ngân sách lương đã khiến cho hàng trăm ngàn công nhân phải thất nghiệp. Các hãng khác như Yahoo,Microsoft,Samsung,Sony,… cũng phải cắt giảm công nhân thậm chí đóng cửa các chi nhánh làm việc khônh có hiệu quả. Số lượng nhân công thất nghiệp phản ánh thực trạng của nền kinh tế của một nước. Nó cho biết kinh tế đất nước đang nằm trong giai đoạn phát triển hay suy thoái. Qua đó, số lượng người thất nghiệp cũng ảnh hưởng đến chính sách phát triển kinh tế của Mỹ, ảnh hưởng đến tỷ giá đồng USD đối với các loại tiền tệ khác cũng như đối với giá vàng.

Ngoài ra, một chỉ báo không thể không kể đến khi đánh giá giá trị đồng USD, đó là quyết định về lãi suất của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (FED). Bất kỳ quyết định nào ảnh hưởng đến việc tăng hay giảm, giữ nguyên lãi suất của Mỹ do FED công bố qua các kỳ họp của Ủy ban Thị trường mở Liên bang (FOMC) đều tác động trực tiếp và mạnh mẽ đến giá trị đồng USD. Dù quyết định tăng/giảm lãi suất của FED với mục đích kích thích hay kìm hãm tốc độ phát triển của nền kinh tế hay nhằm giải quyết các vấn đề khác thì trong ngắn hạn hay tức thời, quyết định tăng/giảm lãi suất của Mỹ cũng sẽ làm tăng/giảm giá trị của đồng USD do trong ngắn hạn hay tức thời, giá trị của đồng USD được nâng lên/hạ xuống so với các ngoại tệ khác trong mối tương quan so sánh. Khi giá trị của đồng USD dao động, giá trị các loại hàng hóa được định giá bằng USD cũng dao động tức thời theo quyết định của FED. Ví dụ, trước khi FED cắt giảm lãi suất cơ bản, 1 ounce vàng có giá là 800 USD nhưng khi FED cắt giảm lãi suất thì vàng “vô tình” bị định giá thấp do USD mất giá nên thị trường sẽ tự động điều chỉnh bằng cách nâng giá vàng lên, trong trường hợp này 1 ounce vàng sẽ có giá là 810 USD.

Mối quan hệ giữa vàng và dầu

Sự tương quan trong biến động giá cả giữa các loại hàng hóa trên thị trường là điều không tránh khỏi, nhất là các loại hàng hóa cùng được định giá bằng một loại tiền tệ, trong đó vàng và dầu là 2 loại hàng hóa có mối quan hệ chặt chẽ về giá. 

Khu vực khai thác và xuất khẩu dầu mỏ lớn nhất thế giới được biết đến là vùng Trung Đông và các nước khu vực này thường dự trữ tài sản dưới dạng vàng, do đó chính nguồn cung dầu mỏ và nguồn cầu về vàng của khu vực Trung Đông quá lớn, ảnh hưởng đến giá cả 2 loại hàng hóa này nên nhiều NĐT thường nhìn vào diễn biến giá dầu trong hiện tại và diễn biến được dự đoán trong tương lai của dầu để từ đó dự đoán cho xu hướng dao động của vàng.

Tuy nhiên, cần có sự phân biệt rằng, vàng và dầu là 2 loại hàng hóa khác nhau, dĩ nhiên sẽ chịu những tác động khác nhau khi biến động giá cả. Nếu sự biến động của dầu được đánh giá là đến từ tác động của đồng USD thì dao động giá dầu phần lớn sẽ diễn biến tương quan với biến động của vàng. 

Nhưng nếu yếu tố tác động khiến cho dầu dao động không đến từ đồng USD, mà vì lý do khác thì khó có thể nói rằng, diễn biến của vàng rồi cũng diễn ra theo chiều hướng như vậy. 

Dù vậy, sự tăng hay giảm giá dầu đều có tác động ít nhiều đến nền kinh tế Mỹ vì Mỹ là nước tiêu thụ năng lượng lớn nhất thế giới và thật là thảm họa cho nền kinh tế Mỹ nếu một ngày nào đó không đủ lượng dầu đáp ứng cho nhu cầu tiêu thụ thì các hoạt động kinh tế, sản xuất… đều có khả năng ngưng trệ.

Tuy nhiên, cần phân tích những tác động của biến động giá dầu đến nền kinh tế Mỹ, qua đó tác động trở lại giá trị đồng USD thì mới dự đoán được diễn biến dao động giá vàng. 

Mặc dù các vấn đề thể hiện trên đây không thể bao quát hết toàn bộ những yếu tố gây ảnh hưởng đến biến động thị trường nhưng những yếu tố này được đánh giá có tầm ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp một cách mạnh mẽ đến giá vàng. 

Một khi có được tầm nhìn tổng quan về các yếu tố tác động này thì NĐT mới làm quen với thị trường vàng sẽ có được nhận định chính xác hơn trước những thông tin được công bố hàng ngày trên thị trường.

Xem thêm

Sức cầu từ Ấn Độ đối với kim loại vàng.

Theo báo cáo từ phía UBS, nếu đánh giá dòng chảy vật chất vào Ấn Độ thì có thể thấy nhu cầu đầu tư tại đây vẫn rất mạnh mẽ…. ít nhất là cao gấp năm lần so với thời điểm trước đây.

Trong khi đó, Ngân hàng TW ẤN Độ cho biết, vàng chỉ được nhập để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của các nhà sản xuất nữ trang. Hay nói cách khác, RBI sẽ cho phép các ngân hàng nhập khẩu vàng dựa trên một cơ sở định giá không ổn định, một nguyên tắc cho vay hoặc một nguyên tắc mua bán hàng hóa. Mọi thay đổi chi tiết sẽ được công bố vào cuối tháng 5. Ngoài ra, hiện tại các ngân hàng của Ấn Độ đang được hỗ trợ đối với các hợp đồng mua nữ trang hoặc tiền vàng trong khi các loại hình mua bán vàng khác thì không được hỗ trợ.

Kể từ sau hai ngày trượt giá trong tháng 4, nhu cầu mua bán cùng với chương trình cho vay hỗ trợ của chính phủ Ấn Độ đã ít nhiều giúp quốc gia này tích lũy được nhiều vàng hơn. Lúc này, tình trạng khan hiếm vàng vẫn tiếp diễn tại thị trường Ấn Độ, và trên thực tế, các công ty chế tác nữ trang đã phải trả cao hơn khoảng 10~12USD/oz để đảm bảo nguồn cung trong nước.

Ngân hàng TW 

Tính từ ngày 2/5/2011 cho tới 26/4/2013, ngoại trừ một lượng nhỏ tiền vàng, mọi giao dịch vàng dường như không thay đổi trong hệ thống các ngân hàng TW của Châu Âu. Tuy nhiên, hoạt động mua bán vàng không được đề cập trong Hiệp định Giao dịch Kim loại quý của EOB cho nên chúng tôi cũng sẽ không đi vào chi tiết hơn.

Tác động của đồng USD lên giá vàng

Thị trường chứng khoán Mỹ đang gào thét sung sướng khi chứng kiến cảnh thu mua mạnh mẽ. Nhìn chung, có thể khẳng định rằng, mọi thứ đang trên đà hồi phục, thế nhưng, các con số thu được sau sáu năm phục hồi lại khiến không ít người phải thất vọng. Tỷ lệ lãi suất cho vay ở mức cực thấp cũng chính là yếu tố tạo ra đà tăng này nhưng đồng thời cũng mang đến nhiều nỗi lo. Rõ ràng, nếu tỷ lệ lãi suất tăng thêm chút ít thôi thì thị trường chứng khoán cũng sẽ phải hạ nhiệt. Xét cho cùng, tốc độ tăng trưởng hữu hình phải mạnh mẽ trước khi thế giới thừa nhận rằng Mỹ đang hồi phục thực sự. Nếu thiếu vắng thị trường Châu Á thì các nước phát triển của thế giới cũng có nguy cơ bị ảnh hưởng bởi tình trạng khô hạn và trải qua một giai đoạn ít tăng trưởng. Thế nhưng, ít nhất trong ngắn hạn, giả định này vẫn chưa thể xảy ra.

Chắc hẳn ai cũng nhận thấy rằng trong thời gian gần đây, kinh tế Mỹ tăng trưởng với tốc độ không mấy rõ ràng, nhưng không phải vì thế mà nền kinh tế đầu tàu này chìm dần. Chính nhờ lợi thế này mà Mỹ đã trở thành đàn anh trong khu vực kinh tế phát triển. Đồng thời, hiện thực này cũng khiến không ít nhà đầu tư tin rằng nền kinh tế toàn cầu đang phụ thuộc chặt chẽ vào tốc độ tăng trưởng của Mỹ. Và cho đến tận khi khái niệm này thay đổi thì vàng vẫn tiếp tục chảy từ Mỹ sang Châu Á.

Cục dự trữ liên bang Mỹ – FED và chính sách lãi suất thấp.

Nguyên thống đốc ngân hàng của FED cho biết: “Ngân hàng TW có thể sẽ tiếp tục chương trình nới lỏng nếu tốc độ tăng trưởng kinh tế của năm nay chưa đủ để giải quyết vấn đề việc làm cho hàng triệu người dân Mỹ. Cụ thể, thị trường việc làm được kỳ vọng tăng trưởng hơn 3~3.5%, nhưng có lẽ nền kinh tế lớn nhất thế giới khó lòng thu được con số này trong năm 2013. Bởi thế, các nhà hoạch định chính sách vẫn phải tiếp tục các động thái như hiện tại. Đối với những cá nhân thất nghiệp, dường như mọi thứ càng trở nên khó khăn hơn để họ có thể tìm được một công việc trong bối cảnh tốc độ tăng trưởng vẫn duy trì dưới mức 2%. Đã gần 5 năm nay, các số liệu hồi phục luôn khiến thị trường phải thất vọng và tôi đã luôn mong cầu, kinh tế Mỹ sẽ bật ra khỏi vòng quỹ đạo này, nhưng có lẽ niềm mong mỏi này sẽ chẳng thể nào xảy ra. Có thể thấy, nền kinh tế đã rơi vào tình trạng quá mỏng manh, cho nên mọi hành động cơ cấu lại đều có thể làm tổn thương nó.”

Theo báo cáo của Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế Mỹ trong quý I không thể chọc thủng các con số dự báo, cụ thể, chỉ đạt 2.5% trung bình năm.

Thêm vào đó, Bộ Lao động cũng tiết lộ mức tăng thấp nhất trong vòng 5 tháng qua, chỉ đạt 88,000.

Cùng lúc, Cục Dự trữ Liên bang cho biết tổ chức này sẽ tiếp tục tung ra chương trình thu mua tài sản trị giá 85 tỷ đô la cho đến khi thị trường lao động mang đến những thông tin khả quan hơn.

Cụ thể, ngân hàng TW Hoa Kỳ vẫn duy trì tỷ lệ lãi suất thấp và tiếp tục chương trình thu mua trái phiếu sau khi chính thức cho biết tổ chức này có thể sẽ tăng cường hoặc hạn chế thu mua trái phiếu, phần nhiều phụ thuộc vào triển vọng của thị trường lao động cũng như tỷ lệ lạm phát. Hẳn các bạn còn nhớ, đã có lần ngài Ben Bernanke hé lộ sẽ thay đổi tốc độ thu mua hiện tại trong bài phát biểu mới đây nhất, thế nhưng, trên thực tế, chủ tịch FED lại không hề đề cập đến vấn đề này. Tại thời điểm này, nền kinh tế Mỹ đang tăng trưởng với tốc độ vừa phải trong khi tỷ lệ lạm phát có dấu hiệu đi xuống, thấp hơn so với mục tiêu dài hạn mà chính phủ đề ra. Dựa vào thực tế đó, Cục Dự trữ Liên bang sẽ tiếp tục duy trì lãi suất ở mức thấp dao động từ 0% đến 0,25%, ít nhất là cho tới khi tỷ lệ thất nghiệp chỉ còn khoảng 6,5%.

Nền kinh tế Mỹ và số liệu việc làm

Trong báo cáo mới đây nhất của Bộ Lao động Hoa Kỳ, tháng 4 đã tạo ra 165,000 việc làm cho người dân và tình hình tuyển dụng của hai tháng trước đó dường như sôi nổi hơn.

Thị trường việc làm trong tháng 4 có phần chững lại, phần lớn là do cú trượt giảm đột ngột trong tháng 3. Hay nói cách khác, tình hình tuyển dụng đang dậm chân bất chấp dấu hiệu về đợt suy thoái liên tiếp của nền kinh tế.

Trong khi đó, tốc độ tăng trưởng việc làm của khối ngành tư nhân lại giảm xuống khi chỉ ghi nhận mức tăng 119,000 việc làm.

Bộ Thương mại cũng thừa nhận đà giảm của chi phí xây dựng trong tháng 3, cụ thể hạ 1,7% và ấn định mức tăng trưởng của năm chỉ đạt 856,7 tỷ đô la Mỹ. Bất chấp đà tăng ổn định của phân khúc xây dựng khu dân cư thì các dự án xây dựng văn phòng và bệnh viện hạ thấp, đánh mất 2,9%.

Sau hai cú rớt giá liên tiếp của kim loại quý, nhiều nhà đầu tư cho rằng các thông tin tài chính của Mỹ chính là nhân tố tác động chủ yếu lên giá vàng thời điểm này. Phản ứng từ các khu vực khác trên thế giới trước đà giảm của giá vàng cũng phần nào khuấy động thị trường Mỹ.

Trước khi hồi phục theo phân tích kỹ thuật, giá vàng vẫn đang đi theo lối thoát của mình. Một khi hiện thực vẫn tiếp diễn thì có lẽ quan điểm của nhà đầu tư Mỹ sẽ thay đổi nhờ những bước chuyển biến tích cực của giá vàng.

Kinh tế Châu Âu vẫn còn đó nỗi lo

Tình trạng suy thoái tại Châu Âu dường như ngày một tồi tệ hơn khi mà nền kinh tế của Đức có nhiều dấu hiệu đi xuống. Điều đó là hiển nhiên bởi có tới 40% khối lượng xuất khẩu của Đức là dành cho các thành viên trong EU. Trong bối cảnh này, ngân hàng TW Châu ÂU cũng đã quyết định hạ thấp lãi suất cho vay xuống còn 0,5%. Rõ ràng, trong thời gian tới, Mario Draghi thậm chí còn đưa ra các mức lãi suất âm với mục đích thúc ép các ngân hàng đổ tiền cho nền kinh tế. Tuy nhiên, bối cảnh suy thoái cùng nhiều rủi ro gia tăng càng khiến các ngân hàng này chùn chân. Đó cũng là lý do giải thích tại sao tình trạng khủng hoảng kinh tế tại Châu Âu ngày một xấu đi.

Thêm nữa, khó có thể chấp nhận thực tế có tới 27 hệ thống tài chính khác nhau trong một khu vực sử dụng chung một loại tiền tệ và hoạt động với cùng một tỷ lệ lãi suất. Minh chứng là, tỷ lệ lãi suất có thể nâng cao ở Đức – nơi mà nền kinh tế vẫn duy trì ở các con số tích cực trong khi khu vực phía nam của Châu Âu lại rất cần các mức thấp hơn của lãi suất cho vay để hồi phục trở lại.

Tiếc thay, Quốc hội EU dường như bó tay trước áp lực phải ổn định nhu cầu phát triển của các thành viên chỉ với một giải pháp duy nhất. Cũng từ đó, họ đã tạo ra một môi trường phá hoại đối với các quốc gia kém phát triển hơn – nơi mà tỷ lệ thất nghiệp chạm mốc 27%, thậm chí trên 50% đối với độ tuổi lao động trẻ. Vô hình dung, sẽ xuất hiện một quả bom nổ chậm có thể xé tan EU bất cứ lúc nào.

Như vậy, có thể thấy, nhu cầu vật chất đã bùng nổ mạnh mẽ không chỉ tại khu vực châu Á mà còn ở nhiều nước phát triển trên thế giới. Trong bối cảnh suy thoái Châu Âu như hiện nay, rủi ro ngày càng tăng cao. Rõ ràng cuộc khủng hoảng tại EU đang đi đến hồi kết và dường như không có dấu hiệu nào cho thấy các nhà chức trách có khả năng đưa khu vực trở về quỹ đạo. Cũng chính bởi lý do này mà nhà đầu tư đã và đang đổ xô vào vàng. Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa, EU dừng chân mà ngược lại họ vẫn sẽ nỗ lực hết sức cho tới khi không thể che dấu nổi sự thất bại nữa. Chúng tôi tin rằng, giai đoạn phát triển tiếp theo của giá vàng phần nào giúp khôi phục niềm tin vào thị trường tiền tệ toàn cầu.

Tham khảo trên Internet

Chia sẻ bài viết của bạn qua:

loading...
loading...